sách hay mới nhất!

Hash tag: #Hồi_ký

Phân loại sách

Good news! chính thức liên kết với mạng xã hội mọt sách, cộng đồng review và chia sẻ sách http://obook.co/

chi tiết >>
Năm 1987, chủ tịch sáng lập Samsung qua đời, hai tuần sau đó Lee Kun- Hee, con trai thứ ba của ông tiếp quản đế chế Samsung. Mặc dù đã là một trong những tập đoàn hàng đầu Hàn Quốc, nhưng các sản phẩm của Samsung khi ấy hầu như chỉ được tiêu thụ trong nước, vì bị “lép vế ”khi xuất khẩu ra những thị trường khó tính hơn như Châu Âu, Mỹ bởi chất lượng thấp dù giá thành rẻ mạt.
Đứng trước tình trạng trì trệ của tập đoàn, Lee Kun- Hee đã thực hiện một loạt những cải cách thay đổi. Sau 20 năm (1993-2013) kể từ ngày chủ tịch Samsung Lee Kun-hee đưa ra tuyên bố hùng hồn gây chấn động tại hội nghị Bắc Kinh: “Samsung không phải là số 1 hay số 2. Chỉ duy nhất là hạng 1,5 mà thôi.”. Đến thời điểm hiện nay – năm 2013 – Samsung đã vươn lên vị trí hàng đầu thế giới.
Cuốn sách này sẽ cho bạn biết những chọn lựa chiến lược nhạy bén và đúng đắn của chủ tịch Lee đã từng bước đưa Samsung đến vị trí ngày hôm nay như thế nào. Bên cạnh đó là tinh thần và ý chí lao động, thái độ làm việc quyết liệt, phong cách quản lý độc đáo và phần nào độc đoán của Lee Kun Hee.
Những điều mà Lee Kun Hee đã làm không chỉ thể hiện một ý chí mạnh mẽ điển hình cho tinh thần Hàn Quốc mà hơn thế, nó đã vượt xa tầm nhìn của những người cùng thời. Vì vậy, cuốn sách này sẽ giúp các bạn, đặc biệt là những người đang và sẽ làm chủ một doanh nghiệp có thể vững tin hơn trong những quyết định khác biệt của mình.
Khi đọc cuốn sách này, bạn sẽ hiểu được rằng, đằng sau những thành công rực rỡ, đằng sau làn sóng văn hóa Hàn Quốc mạnh mẽ hiện nay là cả một khối quyết tâm hừng hực và kiên cường.

Nguyễn Thái Học

Tác giả: #Nhượng_Tống Ngày cập nhật: 19-11-2019

Nguyễn Thái Học

“...cuốn sách này luôn mang giá trị như một tư liệu lịch sử và là một trong những ấn phẩm sớm nhất viết và tôn vinh một trong những gương mặt tiêu biểu nhất trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.” (Dương Trung Quốc)

Châu, Chút Tạ Tình Tri Âm

Tác giả: #Thanh_Thủy Ngày cập nhật: 19-11-2019

Cuốn bút ký chân dung Châu, Chút Tạ Tình Tri Âm mà quý bạn đọc đang cầm trên tay là kết quả của quá trình “thai nghén” suốt nhiều năm đầy trăn trở, suy tư của người viết. Thậm chí, người viết từng nhiều lần tự hỏi liệu có ai sẽ mua, sẽ đọc cuốn sách này khi nó chẳng chứa những câu chuyện hứa hẹn “câu khách”, khi sân khấu cải lương đang loay hoay lần tìm ánh sáng cuối đường hầm.

Cuốn bút ký được viết bằng giọng văn thủ thỉ tâm tình, hồn hậu như gói cả sông nước mây trời miền Tây; từ chuyện ngôi sao nhí Mỹ Châu tỏa những tia sáng đầu tiên bên bến sông quê vào năm 7 tuổi, đến chuyện nàng làm đào chánh ở tuổi 14 nơi Sài Gòn phồn hoa đô hội, đến chuyện nàng thành “triệu phú” ở tuổi 17, sắm xe hơi, xây nhà lầu dễ như chơi, vàng bạc đầy nhà. Tất cả cũng vì ngày ấy, cải lương là món “độc” theo cả nghĩa độc đáo lẫn độc tôn. Tất cả cũng vì nàng là ngôi sao sáng lạ giữa những ngôi sao thuộc thế hệ vàng của cải lương Việt Nam. Tất cả cũng vì bao trái tim người mộ điệu “ghiền” nàng chết mê chết mệt, tôn vinh nàng là “nữ hoàng kiếm hiệp”.

Thế rồi, thời cuộc đổi thay…

Thế rồi, “cái chết êm ái và mật ngọt” lặng lẽ đánh úp sân khấu cải lương…

Thế rồi, hơn cả một cơn ác mộng, không còn cảnh khán giả rồng rắn đi xem cải lương, không còn những vở cải lương diễn hàng ngàn suất, không còn cảnh tiền bán vé cải lương nhét đầy bao tải, phải è lưng khuân về…

Thế rồi, những thánh đường sân khấu cải lương từng chứng kiến bao phút thăng hoa thần sầu của các nghệ sĩ, bao cảnh người mộ điệu thổn thức khóc cười, nay quạnh hiu…

Thế rồi, nàng đành nuốt nước mắt tự làm cuộc chia ly với sân khấu, với nghệ thuật cải lương để có thể giữ lấy những giá trị nàng muốn giữ gìn trong cảnh làm nghề lao xao…

Nhờ lối kể chuyện thủ thỉ lúc “cận cảnh” đời nàng, lúc “toàn cảnh” bức tranh sân khấu cải lương mà cuốn bút ký này như ngầm vượt lên ý nghĩa một cuốn bút ký chân dung, khe khẽ chạm đến ý nghĩa một biên niên sử không nặng các số liệu về một chặng đường thăng trầm của sân khấu cải lương Việt Nam.

Châu, Chút Tạ Tình Tri Âm

Tác giả: #Thanh_Thủy Ngày cập nhật: 19-11-2019



Cuốn bút ký chân dung Châu, Chút Tạ Tình Tri Âm mà quý bạn đọc đang cầm trên tay là kết quả của quá trình “thai nghén” suốt nhiều năm đầy trăn trở, suy tư của người viết. Thậm chí, người viết từng nhiều lần tự hỏi liệu có ai sẽ mua, sẽ đọc cuốn sách này khi nó chẳng chứa những câu chuyện hứa hẹn “câu khách”, khi sân khấu cải lương đang loay hoay lần tìm ánh sáng cuối đường hầm.


Cuốn bút ký được viết bằng giọng văn thủ thỉ tâm tình, hồn hậu như gói cả sông nước mây trời miền Tây; từ chuyện ngôi sao nhí Mỹ Châu tỏa những tia sáng đầu tiên bên bến sông quê vào năm 7 tuổi, đến chuyện nàng làm đào chánh ở tuổi 14 nơi Sài Gòn phồn hoa đô hội, đến chuyện nàng thành “triệu phú” ở tuổi 17, sắm xe hơi, xây nhà lầu dễ như chơi, vàng bạc đầy nhà. Tất cả cũng vì ngày ấy, cải lương là món “độc” theo cả nghĩa độc đáo lẫn độc tôn. Tất cả cũng vì nàng là ngôi sao sáng lạ giữa những ngôi sao thuộc thế hệ vàng của cải lương Việt Nam. Tất cả cũng vì bao trái tim người mộ điệu “ghiền” nàng chết mê chết mệt, tôn vinh nàng là “nữ hoàng kiếm hiệp”.


Thế rồi, thời cuộc đổi thay…


Thế rồi, “cái chết êm ái và mật ngọt” lặng lẽ đánh úp sân khấu cải lương…


Thế rồi, hơn cả một cơn ác mộng, không còn cảnh khán giả rồng rắn đi xem cải lương, không còn những vở cải lương diễn hàng ngàn suất, không còn cảnh tiền bán vé cải lương nhét đầy bao tải, phải è lưng khuân về…


Thế rồi, những thánh đường sân khấu cải lương từng chứng kiến bao phút thăng hoa thần sầu của các nghệ sĩ, bao cảnh người mộ điệu thổn thức khóc cười, nay quạnh hiu…


Thế rồi, nàng đành nuốt nước mắt tự làm cuộc chia ly với sân khấu, với nghệ thuật cải lương để có thể giữ lấy những giá trị nàng muốn giữ gìn trong cảnh làm nghề lao xao…


Nhờ lối kể chuyện thủ thỉ lúc “cận cảnh” đời nàng, lúc “toàn cảnh” bức tranh sân khấu cải lương mà cuốn bút ký này như ngầm vượt lên ý nghĩa một cuốn bút ký chân dung, khe khẽ chạm đến ý nghĩa một biên niên sử không nặng các số liệu về một chặng đường thăng trầm của sân khấu cải lương Việt Nam.


Mời bạn đón đọc.

Màu Của Nước | James McBride

Tác giả: #James_McBride Ngày cập nhật: 19-11-2019

Màu Của Nước | James McBride

Giới thiệu Màu Của Nước | James McBride

Màu Của Nước là cuốn tự truyện của nhà văn Mỹ James McBride viết để tưởng nhớ người mẹ của mình, một phụ nữ gốc Do Thái da trắng kết hôn với những người đàn ông da đen. Vượt lên bi kịch cá nhân, sự thiếu thốn về vật chất, sự ngược đãi về tinh thần và mọi sự phân biệt đối xử, bà đã nuôi dạy mười hai đứa con trở thành các bác sĩ, giáo sư, giáo viên, nhà khoa học. Đó cũng là câu chuyện về hành trình đi tìm cội nguồn, cái tôi, sự tự tin và ý nghĩa cuộc sống của một đứa con lai da đen, đại diện cho hàng triệu người da đen ở Mỹ.

Màu Của Nước ra mắt bạn đọc lần đầu vào năm 1995, trở thành một hiện tượng xuất bản với kỷ lục nằm trong danh sách Sách bán chạy nhất của New York Times trong 100 tuần (hơn 2 năm). Cuốn sách được coi là tác phẩm văn học kinh điển của Mỹ, từng được trao các giải thưởng Anisfield-Wolf Book Award năm 1997 cho tác phẩm văn học xuất sắc, Màu Của Nước cũng là cuốn sách về người mẹ mà Amazon khuyên mọi độc giả nên đọc.

Lời tác giả Màu Của Nước

"Tôi phải mất tới mười bốn năm khai quật chuyện đời lạ lùng của mẹ - chuyện về con gái của một giáo sĩ Do Thái chính thống kết hôn với một người đàn ông da đen vào năm 1942 - và mẹ tiết lộ chuyện đời mình như một đặc ân dành cho tôi hơn là muốn ngược dòng thời gian trở về quá khứ." - James McBride

Nhận xét về Màu Của Nước | James McBride

"Màu Của Nước sống động như một tiểu thuyết, được viết một cách hấp dẫn, là sự đóng góp sâu sắc cho văn chương về đề tài chủng tộc." - The Washington Post
"Thành tựu mà Màu Của Nước đạt được là, nó cho thấy tình yêu gia đình, ý chí phi thường của người mẹ vượt trên các vấn đề chủng tộc và tôn giáo." - The New York Times Book Review

Trò Chuyện Với Cõi Vô Hình

Tác giả: #Hoàng_Thị_Thiêm Ngày cập nhật: 19-11-2019



Tự truyện nhà ngoại cảm Hoàng Thị Thiêm


Người phụ nữ huyền bí có con mắt thứ 3 và có khả năng kết nối với các linh hồn


• Bí mật từ những ngôi mộ cổ sẽ được khai mở


• Sững sờ của người Nhật trước siêu nhân ba mắt trên truyền hình


Hơn bảy tỷ người trên hành tinh này dường như không ai có thể nhìn được nếu bị bịt kín hai mắt, trừ nhà ngoại cảm Hoàng Thị Thiêm, người được kênh truyền hình NHK uy tín tại Nhật Bản mệnh danh là “Siêu nhân 3 mắt”.


Nếu bạn gặp một người phụ nữ nhỏ bé, giản dị, dịu dàng, khiêm tốn, trình độ học vấn chỉ mới lớp 7, sống trong một nếp nhà nhỏ nép dưới mảng xanh cây trái của rừng núi tỉnh Hòa Bình, có lẽ bạn sẽ không thể nào tưởng tượng được con người đó lại là một nhà ngoại cảm ẩn chứa năng lực bí ẩn, vượt xa khả năng của những “người trần mắt thịt” chúng ta.


Người phụ nữ ấy có cuộc sống khá kín tiếng. Chị bước qua mọi khó khăn, mọi điều tiếng và cứ hồn nhiên sống, hồn nhiên làm việc, chẳng cần tất tưởi bon chen. Khi tự khám phá được những năng lực kỳ bí của bản thân, chị sẵn sàng hy sinh công việc gia đình, mặc cho mảnh vườn đồi xanh, cỏ dại để dành thời gian giúp người, giúp đời. Tất cả những gì chị làm là bền bỉ thực hiện “nhiệm vụ đặc biệt” mà Đấng Siêu linh truyền cho, không đòi hỏi lợi ích gì cho riêng mình. Nhiều lần vượt qua ranh giới của sự sống và cái chết, chịu đựng nỗi thống khổ của cuộc đời xảy đến, chấp nhận sự miệt thị, hắt hủi của người đời, nhưng Hoàng Thị Thiêm tựa như một đốm lửa lẻ loi soi đường cho những linh hồn lạc lối tìm về với người thân.


Vậy mà, người đang bà ba mắt ấy ngay cả khi được vinh danh cũng chỉ khiêm tốn cho rằng đó đơn giản là bổn phận của mình.


“Trò Chuyện Với Cõi Vô Hình” chứa đựng những sự thật mà dường như ít ai có thế tin nổi, của một người đặc biệt. Đóng góp rất nhiều trong sự thay đổi đời sống tâm linh của người Việt Nam đầu thế kỷ 21. Có thể nói, thiên mệnh và khả năng của chị Thiêm là “sứ giả” kết nối linh hồn người đã khuất với người còn sống, và cuốn sách này là câu chuyện lạ thường của một phụ nữ nông thôn Việt Nam, từ một cô gái nghèo khó trở thành nhân vật chính của các buổi tọa đàm ở Hà Nội, các chương trình “Chuyện lạ Việt Nam” trên Đài Truyền hình Việt Nam; là đối tượng nghiên cứu khoa học được các tổ chức quốc tế và Đài Truyền h.nh Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức... mời ra nước ngoài khảo nghiệm, được truyền hình trực tiếp về khả năng đặc biệt “Người Ba Mắt” và được trao bằng chứng nhận cho hoạt động ngoại cảm.


Hoàng Thị Thiêm không còn là chuyện lạ của riêng Việt Nam nữa, nhiều tổ chức nước ngoài tìm đến mời chị tham gia vào những cuộc khảo nghiệm của họ. Cho đến nay, Hoàng Thị Thiêm trở thành một hiện tượng chưa thể lý giải được, một người ẩn chứa bí mật của ngàn năm. Quanh chị là một màn sương mù dày đặc, không thể tìm đâu ra căn nguyên cho bí ẩn đó, mà chỉ có thể lý giải đó là hiện tượng siêu nhiên.


Sự xuất hiện này tạo ra tạo ra một thay đổi nhận thức lớn trong xã hội và trong cách người Việt Nam nhìn nhận thế giới sau cái chết qua cách ứng xử trân trọng tâm linh và quan tâm thật sự đến luật nhận quả. Và đến hôm nay, tác phẩm “Trò chuyện với cõi vô hình” của Hoàng Thị Thiêm sẽ cho độc giả Việt Nam và thế giới hiểu thêm những khám phá mới về thế giới vô hình, huyền bí đang tồn tại song song với thế giới hữu hình mà chúng ta đang sống.


Mong rằng bạn đọc sẽ phán xét và tiếp nhận câu chuyện đời của Hoàng Thị Thiêm bằng một tâm thế khách quan, cầu thị để cảm thông, chia sẻ và có thể tự mình cắt nghĩa hay tiếp tục cuộc hành trình tâm linh đầy bí ẩn này.


Mời bạn đón đọc.

John Đi Tìm Hùng (Tái Bản)

Tác giả: #Trần_Hùng_John Ngày cập nhật: 19-11-2019
John Đi Tìm Hùng

Trần Hùng John là cái tên đã trở nên khá quen thuộc với các bạn trẻ Việt Nam bởi chàng trai mới ngoài 20 tuổi này đã hai lần đi bộ xuyên Việt không mang theo tiền. Chuyến đi thứ nhất kéo dài 80 ngày để trải nghiệm và cảm nhận về đất nước con người Việt Nam và chuyến đi thứ hai kéo dài 40 ngày để kêu gọi các tấm lòng thiện nguyện cùng chung tay hỗ trợ vun đắp tương lai cho học sinh và cải thiện đời sống nông dân nghèo Việt Nam.

Sinh ra và lớn lên ở Mỹ trong một gia đình gốc Việt, bố mẹ li dị từ nhỏ, Trần Hùng John cũng phải trải qua biết bao khó khăn, tự kiếm tiền để trang trải cuộc sống trong một đại gia đình đông con nhiều cháu. Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Tâm lý học, Đại học Berkeley, Trần Hùng John sang Việt Nam tháng 8 năm 2012 du học theo chương trình trao đổi văn hóa. Đây là lần đầu tiên Hùng John tới Việt Nam.

Trước khi sang Việt Nam, hình ảnh về đất nước con người Việt Nam trong cậu đều qua những lời kể của bà của mẹ - đó là hình ảnh một đất nước Việt Nam vừa trải qua chiến tranh còn nghèo khó, cơ cực. Sau gần 2 năm sống ở Việt Nam, tiếp xúc với nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội, tháng 5 năm 2012, Trần Hùng John quyết định đi bộ xuyên Việt không mang theo tiền để tự mình cảm nhận và trải nghiệm về đất nước, con người Việt Nam. Cậu học theo triết lý trong câu danh ngôn “Đừng nói với tôi bạn giỏi như thế nào, hãy kể cho tôi nghe bạn đã đi được những đâu”. Theo cậu, một người đi nhiều nơi sẽ có nhiều cơ hội nhìn thấy những điều mà không cuốn sách hay bức tranh nào có thể kể tả được, và những trải nghiệm đó có thể làm thay đổi một con người. Và cuốn sách John đi tìm Hùng là kết quả của chuyến đi này.

Đồng hành cùng Hùng John trong hành trình nhiều thú vị nhưng không kém phần mạo hiểm này, mỗi chúng ta sẽ tìm thấy nhiều trải nghiệm mới mẻ về chính mảnh đất nơi mình từng sinh sống; hiểu hơn về đất nước, con người Việt Nam qua lăng kính của một chàng trai sinh ra và lớn lên tại Mỹ.

Chuyện Năm 1968

Tác giả: #Trầm_Hương Ngày cập nhật: 19-11-2019



Tập truyện ký này ra đời, với tôi có một cơ duyên sâu sắc. Rõ ràng không có gì hấp dẫn sau những trang lịch sử khô khan, những tập sách truyền thống lịch sử dày cộp, dày đặc chữ, hình ảnh hiếm hoi, nhòe. Rõ ràng, không có gì hấp dẫn sau những trang ra đời, với tôi có một cơ duyên sâu nhoẹt. Nhưng bình tâm lại, đọc kỹ, tôi bị rung cảm mãnh liệt với những câu chuyện về con người, sự kiện được ghi lại bằng đôi ba dòng lịch sử khô khan. Tôi cứ thao thức vì điều ấy. Những bi tráng anh hùng, những hy sinh tổn thất, những oan khuất, trả giá, những dao động vì tuyệt vọng.


Năm 2008, Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ đưa kế hoạch triển lãm chuyên đề Mậu Thân 1968. Phòng chuyên môn từ chối vì hình ảnh hiện vật về đề tài này quá ít. Tôi công tác tại phòng Tuyên truyền, nhận lãnh sứ mạng thực hiện đề cương trưng bày này, bởi nhiều năm trước đó, tôi đã âm thầm tìm lại những địa chỉ đỏ, di tích lịch sử, nhân chứng Mậu Thân 1968. Tôi lao đi, chỉ có trái tim đa cảm, dũng cảm gõ từng cánh cửa. Có những cánh cửa rêu phong đóng chặt, có những cánh cửa khép hờ, có nhiều cánh cửa mở toang, hân hoan, thân thiện đón chào người trẻ đi tìm về quá khứ... Thật kỳ diệu, sự dũng cảm và chịu khó của tôi đã được đền đáp. Những trang viết được mở ra từ đời thường thầm lặng của những người còn được sống sau đêm mùa xuân đẫm máu và nước mắt. Năm ấy, hàng vạn chiến sĩ ở 5 mũi tiến quân về Sài Gòn hầu hết là những người còn rất trẻ. Và ở phân khu 6 - phân khu nội thành, đêm mùng Một Tết Mậu Thân (31.1.1968), lực lượng biệt động đồng loạt nổ súng tấn công 5 mục tiêu theo kế hoạch: Dinh Độc lập, Đại sứ quán Mỹ, Đài phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh hải quân. Do không phối hợp được với đại quân, 5 đội biệt động với tổng số 88 chiến sĩ trực tiếp chiến đấu độc lập trong sào huyệt địch.


Hầu hết các chiến sĩ đã hy sinh, lớp bị bắt, nhưng ý chí và xương máu của các anh chị đã dựng lên những tượng đài bất tử. Sau đêm ấy, người chỉ huy lực lượng biệt động Sài Gòn đắng lòng tự vấn, khi mất đi gần hết lực lượng gạo cội của biệt động, bởi hơn ai hết, ông hiểu sự công phu để có được đội quân đặc biệt ấy. Những người lính có sở trường đánh nhanh rút nhanh ấy đã chiến đấu vô cùng đơn độc khi đại quân không đến được. Chỉ sau mấy ngày bị quân đội Sài Gòn phản công, lùi ra vùng ven đô, trong cảnh đổ nát tan hoang, ông đã trải qua một cuộc tự vấn với chính mình: “Tôi, với cương vị là chỉ huy của họ, đành bất lực không làm gì được ngoài những giọt nước mắt đau đớn chảy suốt đêm tại nơi tạm làm chỉ huy sở của Tiền phương nội đô. Hôm nay, trong trạng thái lắng đọng trước cảnh vật chiến trường, tôi lại càng thấy ray rứt trước những sự việc đã xảy ra đối với đồng đội. Cảm nhận một cách thấm thía rằng, dường như mình là người có lỗi và, có lẽ những cảm nhận này sẽ theo tôi những năm tháng còn lại của cuộc đời”.


Nhiều người còn sống trở về nhớ về Mậu Thân 1968, có tâm trạng như ông. Có biết bao câu chuyện cảm động về những người tuổi trẻ trong Mậu Thân 1968. Năm ấy, anh Bảy Hôn - một trong 14 chiến sĩ biệt động đội 5 được giao nhiệm vụ tấn công vào Dinh Độc lập đã sẵn sàng dời lại ngày cưới của mình, quyết tâm có mặt trong đội quân quyết tử. Trận chiến không cân sức đã diễn ra suốt 2 ngày đêm. Anh trong số 7 người còn lại sa vào tay giặc. Sau đó là những ngày bị tra tấn tàn khốc, bị giam cầm trong nhà tù Mỹ ngụy. Anh làm cuộc vượt thoát. Ngày trở về, oái oăm thay, cô du kích Biện Thị Cưng - người vợ hứa hôn của anh vĩnh viễn không bao giờ được mặc áo cưới. Chị hy sinh trên mảnh đất Củ Chi anh hùng. Năm ấy, đội trưởng đội 5 Tô Hoài Thanh cũng còn rất trẻ. Chuẩn bị trận đánh, anh cải trang nghiên cứu mục tiêu. Trên đường phố Sài Gòn, anh gặp người vợ trẻ là nữ giao liên Võ Thị Cúc. Vợ chồng trẻ lâu ngày không gặp, bao thương nhớ, khát khao đốt cháy cõi lòng. Vậy mà gặp nhau, họ phải nén lại tình riêng. Sau phút đăm đắm nhìn chị, anh kéo sụp nón che mặt, thể như người không quen biết. Đó cũng là lần cuối cùng chị Cúc gặp anh. Năm ấy, Ngô Thanh Vân (Ba Đen) - đội trưởng đội 11 Biệt động cùng 14 chiến sĩ nhận nhiệm vụ tấn công vào mục tiêu Đại sứ quán Mỹ. Ông hứa với Cao Hoài Vinh - người chiến sĩ trẻ nhất trong đội: “Sau trận đánh này, tao sẽ cho mày lấy con Ngọc Huệ”.


Trước đó, ông không tán thành mối tình này, bởi Vinh đem lòng yêu cô giao liên lớn hơn anh đến 6 tuổi. Là người duy nhất còn sống sót trong trận đánh này, Ba Đen cứ day dứt mỗi khi nhớ về đồng đội. Đôi mắt mở to của Cao Hoài Vinh cứ theo suốt cuộc đời ông. Vinh hy sinh vì đã bắn quả B46 vào một căn phòng kiên cố trong tòa đại sứ Mỹ, nào ngờ vật chắn phía sau quá gần, sức công phá quả đạn B46 dội ngược trở lại, Vinh hy sinh. Ba Đen ngậm ngùi kể: “Tôi không bao giờ quên được đôi mắt mở to của Vinh. Nó chết mà không hiểu vì sao mình chết. Tôi nợ cuộc đời góa phụ của con Huệ. Hôm xuất phát ở Củ Chi, mặt thằng Vinh sáng rỡ khi tôi hứa sau chuyến này cho tụi nó lấy nhau. Nào ngờ... Điều tồi tệ nhất trong ký ức Mậu Thân là tất cả đều hy sinh, còn tôi thì được sống!”. Năm ấy, có người chiến sĩ giải phóng quân còn rất trẻ đã hy sinh trong tư thế đang đứng bắn, khiến kẻ thù khiếp sợ. Dẫu không để lại một tấm hình, một dòng địa chỉ nhưng anh đã tạc vào lịch sử một dáng đứng Việt Nam lồng lộng, qua xúc cảm của nhà thơ Lê Anh Xuân.


Trong Mậu Thân 1968, có hơn 10.000 quân đã được đưa vào các mục tiêu trong nội thành một cách an toàn. Với những người tuổi trẻ chúng tôi, đây quả là một ẩn số, ly kỳ đâu kém chuyện những con ngựa thành Troy. Và trên đường tiến về Sài Gòn, hàng ngàn chiến sĩ quân giải phóng đã vĩnh viễn nằm lại ở vùng ven đô, trong những mục tiêu chiến đấu, ở những góc phố, con đường...


Đối với chị Võ Thị Tâm - giao liên, trinh sát cho Tư lệnh tiền phương phân khu 2, ba lần dẫn quân tấn công vào nội đô làm sao quên được những ngày chiến đấu đẫm máu trong nội thành Sài Gòn. Để tránh hỏa lực địch, các chiến sĩ hành quân bằng lỗ đục tường, từ nhà này sang nhà khác. Vừa xuyên tường, họ vừa bí mật bất ngờ đánh xuyên hông địch. Họ lần lượt hy sinh và bị thương. Đêm 16.6.1968, đồng chí Hai Hoàng (Võ Văn Diều)- Trung đoàn trưởng Trung đoàn Phân khu 2, chị Tâm và 10 chiến sĩ đến được căn nhà vắng chủ số 128, đường Ngô Nhân Tịnh. Sáng sớm ngày 17.6.1968, những người lính năm ấy đã nắm chặt tay nhau, hô vang lời thề quyết tử. Họ chọn cái chết không phải vì họ là những con người cuồng tín, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Vì yêu mến sự sống mãnh liệt mà họ đã chọn lựa cách chết. Trước khi quyết tử, họ kiên quyết ra lệnh cho chị Võ Thị Tâm phải cải trang làm thường dân, bởi chị là phụ nữ có thể ra hợp pháp, mang những kỷ vật và lời thề “Thà chết không đầu hàng giặc” của 10 chiến sĩ cuối cùng của trung đoàn trở về...


Chuyện Mậu Thân 1968 có quá nhiều điều để viết, để kể.


Năm ấy, có người mẹ ôm trên tay đứa con chưa đầy hai tuổi dẫn đoàn quân bước vào trận chiến đấu sinh tử. Năm ấy, có người vợ chưa kịp ăn cùng chồng trái táo cắt đôi đã nuốt vội nước mắt tiễn chồng vào trận đánh mà cái chết hiển hiện ngay trước mặt. Năm ấy, chỉ sau một đêm, có quá nhiều những người vợ góa chồng, khắc vào tim lời trăng trối của người lính trước lúc ra đi. Và phía sau những người phụ nữ ấy là nhà tù, cái chết, những năm tháng cô đơn dài dằng dặc của kiếp người... Càng tiếp cận với những tư liệu Mậu Thân 1968, tôi càng cảm nhận vẻ đẹp thành phố mình đang sống một cách máu thịt, sâu thẳm hơn, bởi đâu đó trên những con đường, góc phố ta qua, xương máu những người lính năm xưa còn gửi lại. Các anh chị đã hiến dâng cho Tổ quốc tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời người.


Tiểu thuyết “Đêm Sài Gòn không ngủ” tái hiện Mậu Thân 1968 qua góc nhìn của một người tuổi trẻ lớn lên sau chiến tranh có quá nhiều day dứt, trăn trở về bi hùng năm xưa, những tha hóa hôm nay, trách nhiệm những người còn được sống. Dường như có quá nhiều người đã nằm xuống thôi thúc tôi cầm bút viết những dòng về Mậu Thân 1968:


Sài Gòn đêm Mậu Thân không ngủ.


Những người lính biệt động “đánh nhanh rút nhanh” vẫn kiên trì chờ đại quân, dù biết mình phải chết!


Đó đây những góc phố, con đường các anh chị còn nằm lại.


Nhiều người lạc đường, “lội” sông đã không về.


Những người lính cảm tử được giấu trên máng xối, tường hai lớp, vách hai ngăn...


Những bà mẹ giấu con ngay trong tấm lòng mình.


Sài Gòn rưng rưng hai chữ lòng dân!


Tôi biết có nhiều cái nhìn về Mậu Thân 1968. Bản thân tôi khi tiếp cận với những nhân chứng, tư liệu; không khỏi chạnh lòng, đồng cảm với những mất mát của những thường dân vô tội khi máu lửa, bom đạn ập xuống ngôi nhà mình, phải táo tán chạy loạn, gia đình phải ly tan. Tôi cũng không khỏi sốc khi nghe một giáo sư từ một trường đại học ở nước ngoài đến Việt Nam, đặt những câu hỏi mang tính “phản biện về giới”: “Có phải những người phụ nữ Việt Nam tham gia cách mạng là bởi vì họ quá nghèo. Họ mong thay đổi hoàn cảnh, để lấy được chồng?”. Tôi lặng người, cố giữ bình tĩnh, rồi kể cho họ nghe, không chỉ chuyện 13 Thanh niên xung phong hy sinh ở Truông Bồn, 10 cô gái đã nằm lại ở Ngã Ba Đồng Lộc mà ngay cửa ngõ Tây Nam Sài Gòn, 32 dân công hỏa tuyến đã hy sinh trên đường làm nhiệm vụ. Ở Suối Sọ, 500 quân dân phía Đông Sài Gòn đã ngã xuống, trong đó có những người phụ nữ còn rất trẻ. Đó là những cô gái rất đẹp. Họ có một cuộc sống rất thuận lợi, ngay sát nách Sài Gòn phồn hoa, đầy ắp hàng hóa tiêu dùng. Họ có xe Honda, thậm chí cả xe du lịch để đi, có sĩ quan chính quyền Sài Gòn theo đuổi, tán tỉnh. Nhưng họ đã dùng những bờ vai con gái của mình tải đạn chuyển thương. Biết đi là đối mặt với gian khổ, hiểm nguy, cái chết... Nhưng họ đã tự nguyện dấn thân, với lý tưởng cao đẹp. Tôi thực sự ấn tượng khi năm 1998, tại cánh đồng Mã Lò thuộc Bình Chánh, khi đào móng xây một tòa nhà lớn, người ta quy tập được hàng trăm bộ hài cốt chiến sĩ quân giải phóng. Đất còn giữ được những đôi dép râu, những chiếc kẹp ba lá... của những người con gái, con trai.


Tôi đặc biệt rung cảm mãnh liệt số phận những người phụ nữ trong máu lửa Mậu Thân 1968:


“Có nơi nào như ở Sài Gòn


Chúng ta mắc nợ những người con gái đẹp


Có gì quý bằng nhan sắcvà nhân phẩm


Khi Tổ quốc cần, những người con gái biết hy sinh”.


Và trong tập sách này, nếu kiên trì mở ra, tôi tin bạn đọc sẽ đồng cảm, hiểu vì sao tôi viết nhiều về họ. Viết nhiều mà vẫn không thể hết, chỉ là những con người, câu chuyện tôi được gặp mà thôi!


Sài Gòn, Xuân Mậu Tuất 2018.


Trầm Hương


Mời bạn đón đoc.

Ngẫu Hứng

Tác giả: #Trần_Tiến Ngày cập nhật: 19-11-2019



Trong một lần trà dư tửu hậu, khi những ký ức chợt ùa đến giữa cơn say, Nghệ sĩ Trần Tiến muốn viết lại những hỉ, nộ, ái, ố dọc đường du ca của mình. Ông bắt đầu viết câu chuyện cuộc đời mình rất tự nhiên, vô tư như lời tâm tình sâu lắng. Quyển tự truyện chỉ vỏn vẹn bắt đầu bằng hai chữ Ngẫu hứng.


Không phải tình cờ mà rất nhiều tác phẩm của Trần Tiến thường có tựa “ngẫu hứng”: Ngẫu hứng phố, Ngẫu hứng sông Hồng, Live show Ngẫu hứng, Ngẫu hứng Trần Tiến… tất cả đều có chủ ý riêng của nó. Nhưng mãi đến khi thưởng thức các sáng tác cũng như trò chuyện với ông, người nghe mới vỡ lẽ ra rằng đơn giản vì đó là Trần Tiến, là tâm hồn củamột người nghệ sĩ đa tài.


Khi sáng tác ông không bao giờ điều khiển câu chữ, để nó tự tuôn trào như dòng chảy chứ không theo một quy tắc nào, chữ đi theo chữ không lường trước được. Đó là lý do ông hay mượn hơi men để sáng tác, bởi đó là lúc ông tự do thả hồn theo nghệ thuật. Cuối cùng ông mới dùng những kỹ thuật sắc xảo của mình để cắt dán, lắp ghép chúng lại cho hoàn chỉnh. Ở ông tỏa ra chất phiêu rất thu hút, khi ông nói, khi ông cười, khi ông hát… tất cả đều thật tự nhiên mà lại toát lên phong cách rất đặc biệt. Có lẽ chính bởi điều đó đã khiến “ngẫu hứng” nghiễm nhiên trở thành thương hiệu mang tên Trần Tiến.


Trong quyển tự truyện của mình, Trần Tiến cho thấy một con người rất đỗi đời thường, những câu chuyện, những hình ảnh dung dị là những mảnh ghép làm nên cuộc đời ông. Chắc chắn, bạn đọc sẽ thực sự xúc động khi đọc về sự cay đắng, chua chát cũng như những bước ngoặt đã đẩy cuộc đời ông phiêu bạt nhiều nơi. Chính những câu chuyện như vậy mới lí giải được một con người lại tồn tại nhiều góc cạnh hoàn toàn đối lập, đó là sự phóng thoáng, bụi bặm nhưng lại rất sâu sắc, thâm trầm… Có thể đây là lý do giúp các sáng tác của Trần Tiến gần gũi, thực tế và dễ đi vào lòng người.


Mặc dù gặp rất nhiều trắc trở trên đường đời nhưng Trần Tiến vẫn giữ tâm hồn thanh cao của người nghệ sĩ đơn thuần. Điều mà chỉ nghệ sĩ chân chính mới có thể làm được. Ông tự ví chua chát rằng nghề nhạc sĩ, ca hát như “Xướng ca vô loài” là nghề bị coi rẻ chẳng ra loài nào! Ấy vậy mà ông chẳng quan tâm bởi “Viết chẳng để làm gì, nhưng mà... sướng”. Bởi đó là cái nghiệp gắn với đời mình, nhiều lúc chẳng có việc gì, cũng chẳng cảm xúc rần rật, tâm hồn, tâm hiếc gì hết. Cứ mở trang giấy, trắng lạnh đến ghê người. Rồi soi mặt mình vào đó. Thế rồi con chữ ở đâu rủ nhau chạy về như rươi làm tình dưới mùa trăng mọc. Mình phải ngăn chúng lại! Đời mình chỉ được làm "sếp" duy nhất có lúc ấy thôi. Con chữ bay ra vẽ cái khuôn mặt mình, đâu phải chuyện làm tình, chuyện dạy đời.”


Trong lòng đồng nghiệp và công chúng, mọi người gọi Trần Tiến là nghệ sĩ của nhân dân, nhưng ông lại phủ nhận điều đó, vì ông muốn mình là một người bình thường như những người khác, được chạm đến trái tim mỗi người để chia sẻ và thấu hiểu cùng họ. Là người có tính cách dản dị, dễ gần ông luôn sẵn lòng ngồi ghé xuống một quán nước vỉa hè, một ghế tựa bia hơi nếu ai đó có lời mời. Ông có thể la cà ngoài chợ, có thể ngồi uống nước với mấy chị quét rác…Ông đến với mọi người bằng tiếng cười sảng khoái và bằng cả tấm lòng chân thành. Có lẽ chính vì thế nên ông đã "diễn" như đang sống cuộc đời của các nhân vật. Diễn mà như không, chỉ còn lại sự chân thực - chân thực như là cuộc sống, khiến cho người xem bị thuyết phục một cách tự nhiên.


Trần Tiến gai góc, mạnh mẽ là thế nhưng ông là người sống rất tình cảm, ông cũng khóc, cũng đau khi buồn, khi nhớ. Mỗi khi ông hát về những bài ông viết quê mình, chẳng bao giờ ông hát nổi một bài bởi cứ hát lại khóc... Ông dành tuổi trẻ của mình để yêu thương và cho đi hết mình. Năm 1990, ông lập nhóm “Du ca Đồng nội” để đi hát kiếm tiền xây dựng một “Trường nhạc cho trẻ thiếu may mắn”. Ông lấy nhà mình làm lớp học “Mặt trời nhỏ” đào tạo 25 nghệ sĩ tí hon trong suốt 7 năm, đến khi các em trưởng thành tự kiếm tiền được, cũng là lúc ông cạn tiền, đành đóng cửa.


Một trong những nét đặc biệt thu hút ở ông là tính hài hước pha chút chất ngông của người nghệ sĩ. Trang sách mới mở ra đã nghe vị tếu táo “Mình hay trêu đùa bạn bè: ‘Ai chưa đọc văn Trần Tiến, người ấy mới sống nửa đời người. Còn đã đọc xong rồi thì… chẳng còn gì để sống nữa!!!’” He he.” Và cứ thế ông dẫn dắt đọc giả đi vào cuộc đời mình hết mực rộng mở, chân phương.


Trần Tiến thủa nào vẫn vậy, vẫn khuôn mặt ấy, vóc dáng ấy, không lẫn vào đâu được, giữa dòng người ngược xuôi. Dù đã bước vào ngưỡng cửa của tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng tình yêu, niềm đam mê, sức sáng tạo âm nhạc của ông dường như vẫn đang bừng cháy. Có lẽ Trần Tiến đã quá mộc mạc, chân thật vì thế mà sự thể hiện của ông qua cách nói chuyện rất “nông thôn”, có sao nói nấy, không màu mè, tô vẽ, làm cho bạn đọc không khỏi rời mắt khỏi cuốn sách mà chỉ muốn ngồi một chỗ đọc một mạch từ đầu đến cuối. Trần Tiến thật sự đã chạm khắc vào trái tim người đọc.


Mời bạn đón đọc.

Người Đức Trong Điện Kremli

Tác giả: #A.Rar Ngày cập nhật: 19-11-2019
  • Tác giả: #A.Rar
  • Dịch giả: Nguyễn Văn Hiền
  • Công ty phát hành: #Phương_Nam
  • Trọng lượng: 320.00 gam
  • Kích cỡ: 13x19 cm
  • Số trang: 398
  • Giá bìa: 40,000 đ


Trước khi đắc cử vị trí tổng thống Nga, V. Putin đã từng là một trung tá KGB và có thời gian dài làm việc tại Cộng hoà dân chủ Đức. Do đó, trong hành trang cá nhân của V. Putin có vốn liếng quan trọng giúp cho việc thực hiện gánh nặng nhiệm vụ được đặt lên vai ông ta. Đó chính là sự hiểu biết về nước Đức và qua lăng kính Đức để tỏ tường toàn bộ thế giới Tây Âu. Chúng ta nhận thấy rằng Tổng thống Nga là một trong số ít các nhà lãnh đạo đất nước này biết và hiểu rõ cuộc sống ở nước ngoài với tất cả mặt mạnh và mặt yếu của nó, biết cách so sánh và học tập kinh nghiệm rút ra được qua thực tế.
Đã hơn hai năm trôi qua kể từ khi Pu-tin lên nắm quyền, ở mức độ nào đó, hai năm qua đã là sự trả lời cho câu hỏi của tác giả quyển sách A.Rar: Liệu Tổng thống Nga có khả năng đoàn kết cả xã hội Nga, sẵn sàng đưa các quan hệ với các quốc gia hàng đầu thế giới đi vào nề nếp và làm nổi việc chơi quân bài Đức theo nghĩa tốt đẹp hay không? Giờ đây có thể nói rằng nước Đức hướng chính sách đối ngoại ưu tiên vào Nga đang được thực hiện rất hiệu quả và sôi nổi.
Về V.Putin thì còn nhiều điều để viết, nhưng cuốn sách của A.Rar Người Đức trong điện Kremli được coi là sự khởi phát. Trong đó, có nhiều lời giải đáp cho các câu hỏi và đặt ra những vấn đề mới mà nước Nga và vị Tổng thống cuả mình phải giải quyết...