sách hay mới nhất!

Sách của nhà phát hành: #Nhà_Xuất_Bản_Tri_Thức

Phân loại sách

Good news! chính thức liên kết với mạng xã hội mọt sách, cộng đồng review và chia sẻ sách http://obook.co/

chi tiết >>

Tấm Lưới Sự Sống

Tác giả: #Fritjof_Capra Ngày cập nhật: 21-04-2018

Tấm Lưới Sự Sống

Có thể coi đây là chủ đề ở tuyến tiên phong khoa học suốt gần một thế kỉ chuyển đổi tận gốc rễ từ một khuôn mẫu cơ giới luận sang thế giới quan sinh thái: “Ngày nay sự dịch chuyển khuôn mẫu trong khoa học, ở mức sâu sắc nhất của nó, mang ý nghĩa một dịch chuyển từ vật lí học sang các khoa học sự sống...”

Với tư cách là một nhà vật lí lí thuyết, Fritjof Capra đã trải nghiệm cay đắng cuộc “động đất” của quan niệm vật lí học đầu thế kỉ 20, chứng kiến bao nhiêu cuộc “thăng trầm” đầy kịch tính của rất nhiều trường phái khoa học và triết học, mà tác giả nhận thức như hàng loạt cuộc “khủng hoảng thế giới quan”.

Tác giả đã được tiếp cận nhiều thành tựu rực rỡ của khoa học thế kỉ 20, mở ra chân trời mới cho cái gọi là “tầm nhìn tổng thể-hệ thống”: “Động lực học phi tuyến”, “Hệ phát tán tự-tổ chức”, “Động lực học mạng lưới”, v.v. cho phép tích hợp tri thức liên ngành, xây dựng “phương pháp luận khoa học mạng lưới”, trong đó có Tấm Lưới Sự Sống

Khuôn mẫu tư duy phương Tây, vốn ảnh hưởng sâu sắc vào tri thức nhân loại nhiều thế kỉ trước đây, bao gồm rất nhiều ý tưởng và giá trị bảo thủ kiên cố, trong số chúng có thể kể ra: Quan niệm vũ trụ như hệ thống các cỗ máy khổng lồ chứa các khối xây dựng cơ bản; Quan niệm cơ thể con người cũng như cỗ máy.

Quan niệm cuộc sống trong xã hội như là một cuộc đấu tranh sinh tồn; Niềm tin vào sự tiến bộ vật chất vô hạn định sẽ đạt được thông qua tăng trưởng kinh tế và công nghệ; Và cuối cùng, nhưng không phải là ít nhất, niềm tin rằng một xã hội trong đó nữ giới luôn luôn xếp bậc thấp hơn nam giới chính là một xã hội phù hợp quy luật tự nhiên. Tất cả các điều ngộ nhận ấy đã bị các sự kiện gần đây đặt trước những thách thức trầm trọng. Và quả thực việc xem xét lại chúng tận gốc rễ hiện đang diễn ra.

Việc mô tả bối cảnh tích hợp ngày càng cao, càng sâu của các khoa học liên ngành đã trở thành chủ đề mà tác giả Fritjof Capra đeo đuổi suốt nhiều chục năm ròng, không chỉ như một học giả uyên bác-liên ngành, mà còn như một nhà tư tưởng-cách tân đầy nhiệt huyết. Nguyên bản tiếng Anh của cuốn sách này lần đầu ra mắt năm 1996, đã luôn thu hút được sự chú ý của người đọc rộng rãi hầu khắp thế giới, ở hầu khắp các lĩnh vực tri thức, và hai mươi năm qua cuốn sách càng tỏ rõ sức truyền cảm hứng với nhiều điều “tiên tri” đang dần dần trở thành hiện thực.

Cuốn sách này chia sẻ tầm nhìn mạng lưới đang đột sinh đầy triển vọng mà tác giả đã và đang tận tình truyền đạt.

  • Tác giả: #Đặng_Phong
  • Nhà xuất bản: #NXB_Tri_thức
  • Năm xuất bản: 01-08-2012
  • Công ty phát hành: #NXB_Tri_thức
  • Trọng lượng: 836.00 gam
  • Kích cỡ: 16 x 24 cm
  • Số trang: 532
  • ISBN: 2010101004522 (VI60828)
  • Giá bìa: 130,000 đ


"Phá Rào" Trong Kinh Tế Vào Đêm Trước Đổi Mới


Ở Việt Nam và cả nước ngoài, giới nghiên cứu thường coi năm 1986 với Đại hội Đảng lần thứ VI là thời điểm bắt đầu công cuộc Đổi mới. Trong thực tế, trước đó nhiều năm đã có hàng loạt mũi đột phá can đảm, gian nan, trầy trật, mưu trí, sáng tạo, mà theo cách gọi thời đó là những cuộc "phá rào". Phá rào tức là vượt qua những hàng rào về quy chế đã lỗi thời để chủ động tháo gỡ nhiều ách tắc trong cuộc sống, đồng thời cũng góp phần từng bước dẹp bỏ hàng loạt rào cản cũ kỹ để mở đường cho công cuộc Đổi mới.


Mục tiêu của cuốn sách này là góp phần dựng lại một bức tranh sống động, phong phú về những tìm tòi, tháo gỡ trong thời kỳ "phá rào" đó.


Nói đến phá rào, trước hết cần trả lời câu hỏi: Hàng rào là những gì?


Đó chính là những thể chế, những nguyên tắc của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung được hình thành ở Liên Xô và sau đó được áp dụng tại hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa.


Mời bạn đón đọc.

Việt Nam, Tình Yêu Của Tôi

Tác giả: #Ernst_Frey Ngày cập nhật: 21-04-2018

Việt Nam, Tình Yêu Của Tôi

Ernst Frey sinh năm 1915 ở thành phố Vienna. Năm 1934 gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng Sản. Nhiều lần bị giam giữ dưới chế độ phát xít Áo. Tháng 4 năm 1938 trốn chạy sang Thụy Sĩ, ở đấy ông bị giam giữ nhiều tháng. Khi được tự do ông đến Pháp với mục tiêu tham gia Binh đoàn Quốc tế trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha. Nhưng ông lại rơi vào Đội Quân Lê Dương và đến Algeria. Từ năm 1941, ông đến Đông Dương với tư cách Tình nguyện quân. Tháng 3 năm 1945 Nhật bản xâm lược Đông Dương. Tháng 9 năm 1945 Frey bị Nhật bắt làm tù binh. Nhưng chỉ ít lâu sau ông trốn sang hàng ngũ Việt Minh, ở đấy đầu tiên ông tham gia huấn luyện quân sự, rồi được phong hàm đại tá. Tháng 9 năm 1950 ông rời Việt Nam về Vienna và mất năm 1994 tại đó.

Ernst Frey, cuộc đời ông không chỉ mang bản chất của một người chiến sĩ, mà còn cả của một người đi tìm kiếm, là người chứng kiến những năm 1930 giết chóc ở Áo, bị xua đuổi kép vì vừa là người Do Thái vừa là đảng viên cộng sản, đã bị bỏ tù đôi lần rồi cuối cùng, vào năm 1938, bỏ trốn bọn Quốc xã.

Qua những con đường vòng vèo, ông đến được Việt Nam, ở đó ông tham gia Việt Minh và đấu tranh cho nền độc lập của nước này.

Chỉ ít dòng này đã cho thấy trải nghiệm của ông phong phú đến nhường nào - và qua đó cũng có cả vấn đề đặt ra cho tôi: thực ra, vấn đề ở đây xoay quanh bao nhiêu câu chuyện lịch sử?

Các trải nghiệm ở Áo, cuộc đấu tranh chính trị chống chế độ phát xít Áo, sự lớn mạnh của bọn Quốc xã và cuối cùng là cuộc trốn chạy - tất cả những điều đó đã cung cấp đủ chất liệu cho một cuốn sách. Thế nhưng tiếp theo là những chuyện khó tin song đầy quyến rũ về cuộc sống ở Đông Dương thời ấy, về thời gian bị Nhật bắt làm tù binh, sự kết thúc Thế chiến II và quyết định tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì nền độc lập của đất nước - riêng điều đó đã có thể cung cấp đủ chất liệu cho một cuốn sách nữa. Vậy là ở đây không chỉ có hai cuốn sách - như ngay từ đầu có vẻ như vậy - đấy là hai câu chuyện mà chúng rất khó gộp thành một. Dù sao cuối cùng thì đấy cũng là một cuộc đời và điều đó đưa đến quyết định phải thể hiện câu chuyện trong toàn cục của nó.

Nhân học ở Việt Nam

Tác giả: #Nhiều_tác_giả Ngày cập nhật: 21-04-2018
Đặt Nhân học ở Việt Nam trong bối cảnh lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 và trong mối quan hệ tương tác với các truyền thống Nhân học trên phạm vi toàn cầu, cuốn sách Nhân học ở Việt Nam là một tuyển tập nhiều bài viết tâm huyết của các nhà khoa học Việt Nam, Nhật Bản, Canada và Pháp. Tuyển tập gồm ba phần.
Phần thứ nhất đưa các độc giả trở về với lịch sử hơn 100 năm truyền thống của ngành khoa học Nhân học để thấy được những đóng góp to lớn và rất riêng của các nhà nhân học như Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Đức Từ Chi và Viện Viễn đông bác cổ Pháp... đối với sự hình thành và phát triển của chuyên ngành Dân tộc học theo truyền thống Dân tộc học Pháp và truyền thống Dân tộc học Xô-viết, cũng như sự chuyển đổi từ Dân tộc học sang Nhân học ở Việt Nam trong những thập kỷ đổi mới và hội nhập quốc tế gần đây.
Phần thứ hai làm rõ thực trạng, vấn đề và triển vọng nghiên cứu của các chuyên ngành của ngành khoa học Nhân học như Nhân học về giới, Nhân học chữ viết, Nhân học sinh thái, Nhân học tộc người cũng như các hướng nghiên cứu về sinh kế, di sản văn hóa... tại Việt Nam.
Phần thứ ba phân tích thực trạng đào tạo và giảng dạy Nhân học, nhận diện những khó khăn và thách thức hiện tồn, thảo luận các giải pháp quảng bá ngành học, nâng cao chất lượng đào tạo Nhân học theo hướng đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội và tiến trình hội nhập quốc tế.
Lời cảm ơn 9
Lương Văn Hy
Nhân học: Lịch sử, nghiên cứu về Việt Nam, và đào tạo
Phần I
Nguyễn Văn Huyên và Nguyễn Đức Từ Chi trong nhân học Việt Nam
Phạm Khiêm Ích
Góp phần nghiên cứu nhân học ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế
Olivier Tessier
Những bước đi đầu tiên của dân tộc học ở Việt Nam: Vai trò thúc đẩy của Viện Viễn Đông bác cổ Pháp trong nửa đầu thế kỷ 20
Ngô Đức Thịnh
Nguyễn Văn Huyên và nghiên cứu văn hóa Việt Nam
Đỗ Lai Thúy
Nhân học văn hóa - Nhìn lại Nguyễn Văn Huyên và từ Nguyễn Văn Huyên nhìn lại
Đinh Hồng Hải
Tri thức bác học của Nguyên Văn Huyên: Dẫn liệu từ Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam
Nguyễn Phương Ngọc
Nguyễn Văn Huyên với việc tổ chức nghiên cứu và đào tạo nhân học (1938-1945)
Nguyễn Mạnh Tiến
Trí thức Việt Nam đầu thế kỷ 20: Trường hợp Nguyễn Văn Huyên đối diện với sự kiện Hát đối đáp
Bùi Xuân Đính
Từ Chi và nghiên cứu về làng xã - Những điều ông dạy học trò
Nguyễn Duy Thiệu
Từ Chi với trường phái dân tộc học đề cao nghiên cứu thực địa
Lê Hồng Lý
Nhà dân tộc học Từ Chi và cách ông dạy học trò
Trần Hữu Sơn
Cá tính Từ Chi trong ứng xử với nghề dân tộc học
Phạm Văn Dương
Tiếp cận nhân học trong trưng bày “Từ Chi - Nhà Dân tộc học” tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Phần II
Một số vấn đề nghiên cứu
Kato Atsufumi
Những đặc điểm của nhân học về Việt Nam ở Nhật Bản
Nguyễn Thu Hương
Nhân học về giới ở Việt Nam từ khi Đổi mới
Phan Phương Anh
Nhân học chữ viết: Lịch sử, cách tiếp cận và triển vọng ở Việt Nam
Nguyễn Công Thảo
Nhân học sinh thái ở Việt Nam: Hai giai đoạn, một con đường
Lý Hành Sơn
Nhân học về người Dao ở Việt Nam và một số vấn đề đặt ra
Nguyễn Ngọc Thanh
Quy ước sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của người Dao ở Việt Nam
Sarah Turner và Jean Michaud
Sinh kế nơi biên cương: Sự thích ứng của người Hmông ở vùng biên giới Việt - Trung
Nguyễn Thị Thanh Bình
Một số vấn đề trong nghiên cứu hôn nhân xuyên biên giới ở Việt Nam
Đinh Thị Thanh Huyền
Sáng tạo lại truyền thống và vấn đề bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam: Trường hợp Quan họ Bắc Ninh 357
Phạm Văn Lợi
Một số vấn đề trong nghiên cứu về nhà ở của các tộc người ở Việt Nam
Phần III
Đào tạo và giảng dạy nhân học: Thực tiễn và gợi mở
Vương Xuân Tình
Một số đổi mới theo hướng ngành nhân học ở Viện Dân tộc học (2000 - 2015)
Nguyễn Văn Sửu
Vấn đề tộc người trong định hướng phát triển của Khoa Nhân học ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Huỳnh Ngọc Thu
Một số vấn đề về đào tạo đại học ngành nhân học ở Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Nguyễn Trường Giang, Thạch Mai Hoàng, Lương Thị Minh Ngọc
Một số gợi ý giảng dạy học phần Nhân học đại cương
Nguyễn Văn Tiệp
Nhân học ứng dụng và việc giảng dạy, nghiên cứu nhân học ứng dụng ở Việt Nam
Ngô Thị Phương Lan
Hội nhập quốc tế và tính địa phương trong giảng dạy Nhân học kinh tế ở Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh


Gia Đình, Bạn Bè Và Đất Nước - Hồi Ký Nguyễn Thị Bình


Trên tay các bạn là Hồi ký của bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nữ Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Việt Nam, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tại hòa đàm Paris. Hẳn suy nghĩ đầu tiên của không ít người khi cầm cuốn sách này là tò mò chờ đợi những chuyện ly kỳ về cuộc hội đàm nổi tiếng gay go và dài nhất trong lịch sử ngoại giao thế giới ấy, mà tác giả là người trong cuộc. Cần nói ngay: chờ đợi ấy sẽ không được thỏa mãn. Hiểu theo cách nào đó ở đây cũng có một sự "ly kỳ", nhưng là kiểu khác, về một con người. Cuốn sách nhỏ này nói về con người đó, con đường đi của bà, cuộc đời bà, như bà đã chọn một đầu đề thật giản dị: Gia đình, bạn bè, và đất nước, những nguồn gốc đã tạo nên sức mạnh đặc biệt của bà.


Những người ít nhiều biết bà Nguyễn Thị Bình thường ngạc nhiên về hai điều: sức hấp dẫn, tính thuyết phục lớn và sâu của bà, không chỉ ở trong nước mà cả đối với đông đảo những người ngoài nước, kể cả những nhân vật lớn và "khó" - chúng ta biết chẳng hạn sau năm 1979, khi ta buộc phải tiến hành cuộc chiến tranh Tây Nam khó nhọc chống lại quân Pôn Pốt xâm lấn biên giới và cứu nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng, rất nhiều bạn bè cũ đã không thể thấu hiểu và chúng ta đã phải lâm vào thế cô lập khá lâu, họ đã tìm đến bà Bình, và sau khi nghe bà ôn tồn giải thích, họ bảo: Đúng rồi, chúng tôi đã nghe nhiều người, nhưng đến Bình nói thì tôi tin! Suốt những năm tháng ác liệt, khó khăn nhất của chiến tranh chống ngoại xâm, ở bất cứ nơi nào bà đến trên hầu khắp thế giới cũng vậy, người ta bảo" "Bình nói thì tôi tin"... Có thể nói mà không sợ quá đáng, rằng có lẽ bà là người Việt Nam có nhiều bạn bè nhất trên thế giới, từ những người dân thường cho đến các nguyên thủ quốc gia nổi tiếng và thuộc nhiều chế độ chính trị khác nhau. Những năm tháng ấy, bà có mặt ở hầu khắp hành tinh, và thật lạ, thật đẹp, hình ảnh của một Việt Nam đang chiến đấu khốc liệt lại được đại diện không phải bằng một chiến binh đằng đằng sát khí mà là một phụ nữ nhỏ nhắn, khiêm nhường mà uyên bác, gần gũi mà sang trọng, sự kiên định không gì lay chuyển nổi lại được thể hiện chính bằng một vẻ thong dong đầy tự tin... Bà gọi công việc đó là "ngoại giao nhân dân", nghĩa là con người đến với con người, trái tim đến với trái tim. Bà đem bạn bè về cho dân tộc. Và đấy là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định thắng lợi kỳ lạ của Việt Nam trong thế kỷ qua.


Điều "lạ" thứ hai ở bà là sức trẻ của trí tuệ và tâm hồn, sức sống và sức làm việc đáng kinh ngạc, tầm nghĩ rộng, sâu và sắc, thậm chí càng phát triển cùng với tuổi tác. Hầu như trên tất cả các mũi nhọn nhất và sâu nhất của đời sống xã hội và con người hiện tại đều có mặt bà, ở hàng đầu, miệt mài, không mệt mỏi...


Mục lục
Quê Hương


Tuổi Thơ


"Tôi Là Người Hạnh Phúc


Trưởng Thành Trong Kháng Chiến Chống Pháp


Một Mặt Trận Đặc Biệt Của Cuộc Chống Mỹ Cứu Nước


Cuộc Đàm Phán Dài Nhất Lịch Sử


Toàn Thắng Đã Về Ta


Những Kỷ Niệm
...
Mời bạn đón đọc.

Lịch sử của tính hiện đại

Tác giả: #JACQUES_ATTALI Ngày cập nhật: 21-04-2018
Truy tìm những nghĩa lắt léo khác nhau của tính hiện đại trong những nền văn minh khác nhau, trong những ngôn ngữ khác nhau, trong nhiều thời đại khác nhau, trong suốt chiều dài lịch sử, chính là truy đến cùng, ở những chỗ tốt nhất, những bí mật của thân phận con người. Đó là xác định cách suy nghĩ của mỗi nhóm người về điều mà nó mơ tưởng về tương lai, trong thời gian và trong không gian, chống lại những gì có thể có hại cho nó, đề cao những gì hợp với mơ ước không tưởng của nó. Đó cũng là diễn dịch sự tiến triển của các giá trị, các tư tưởng, những gu thẩm mĩ, những chủ đề phẫn nộ, những quan niệm về tiến bộ, những tổ chức kinh tế, những công cuộc táo bạo, những hệ thống chính trị, những phong tục; và đời thường hơn, những cách ăn, mặc, ở, đi lại, làm việc, giải trí, yêu đương, ve vãn nhau, và cảm thấy hạnh phúc.
Những suy nghĩ này không hề vô ích, cũng không có gì bảo đảm rằng những giá trị mà chúng ta đang ôm ấp và chúng ta coi như đã thật sự đạt được kể cả dân chủ, tự do cá nhân và quyền con người sẽ vẫn là những giá trị của tương lai. Những giá trị khác, trong những hoàn cảnh nhất định, sẽ thay thế chúng, trong trí tưởng và trong thực tế.
Mỗi lần một nhóm mới lên nắm quyền, nó chỉ cho phép coi như “hiện đại” những thay đổi chuẩn bị cho tương lai mà nó mơ ước, củng cố quyền lực của nó và duy trì nó lâu dài. Khi đó nó xác định một “cái mới” được ưa thích hơn “cái cũ”.
Nghệ thuật của một thời đại (từ hội họa đến văn chương rồi đến điện ảnh và các loại hình mới khác nữa) nói chung được bảo trợ bởi chính giới tinh hoa thống trị, là phản ánh của sự táo bạo của giới này, của những dự phóng của giới này về tương lai. So với những chiều kích khác của xã hội, nghệ thuật thể hiện tốt hơn quan niệm ưu thắng về tính hiện đại.
Một xã hội mà “hiện đại hóa” là mục tiêu công khai của những kẻ lãnh đạo nó có cái nhìn sáng tỏ về tương lai của nó, thì ràng buộc mật thiết với cái mà nó gọi là “tiến bộ”.
Những xã hội tiền sử trong cả nghìn năm đều muốn những sự lặp lại, vì sợ mọi thay đổi sẽ mang đến cái chết. Con người hi vọng và không được bảo đảm sự trở lại của mặt trời mỗi buổi sáng, mưa mỗi mùa thu, những chồi non đầu tiên mỗi mùa xuân. Không có gì gây bất an hơn sự thay đổi. Khi đó đối với họ, tính hiện đại là sự trở lại của vẫn cái ấy. Hiện đại là ổn định. Vũ trụ học của họ, cũng đầy tài năng như nghệ thuật của họ, là biện hộ cho sự không tưởng này.

1. Sự ra đời của khao khát cái mới:Tính hiện đại của Con người Đến thế kỉ III Công lịch


2. Tính hiện đại của Đức Tin Từ năm 300 đến 1400


3. Bên kia Cổ đại và Hiện đại: Lí trí Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII


4. Phác thảo về tính hiện đại của lí trí: nền dân chủ Thế kỉ XVIII


5. Sự đắc thắng của tính Hiện đại của Lí trí:nền dân chủ thị trường 121 Thế kỉ XIX


6. Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa hư vô, khoa học viễn tưởng, và hậu hiện đại Cuối thế kỉ XIX đến những năm 1960


7. Tính đương đại Từ 1960 đến nay


8. Chúng ta nghĩ thế nào về tương lai của thế giới vào năm 2030?
Thư mục - Sách tham khảo
Jacques Attali sinh ngày 1 tháng 11 năm 1943, là nhà lí thuyết kinh tế và xã hội, nhà văn, cố vấn chính trị cho Tổng thống François Mitterrand từ 1981 đến 1991, người sáng lập và chủ tịch đầu tiên của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (BERP) 1991-1993, người đề xuất cải cách hệ thống bằng cấp đại học theo yêu cầu của Bộ trưởng Giáo dục Pháp; đồng sáng lập chương trình EUREKA châu Âu nhằm phát triển công nghệ mới; sáng lập tổ chức phi lợi nhuận Planet Finance và chủ tịch hãng tư vấn quốc tế Attali & Associates (A&A)...
J. Attali đã viết và biên soạn hơn 70 đầu sách, bao gồm nhiều lĩnh vực: tiểu luận, tiểu thuyết, kịch, tiểu sử, hồi kí, truyện kể cho trẻ em. Ông còn là nghệ sĩ piano và thành viên Ban Giám đốc Bảo tàng Orsay. Ông viết nhiều về tầm quan trọng của âm nhạc trong tiến hóa của xã hội. Tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng, bán được hơn 8 triệu bản trên khắp thế giới.
Năm 2009, tờ Foreign Policy đưa ông vào danh sách “100 nhà tư tưởng hàng đầu thế giới” (top 100 global thinkers)

Thế Mà Là Nghệ Thuật Ư?

Tác giả: #Cynthia_Freeland Ngày cập nhật: 21-04-2018
Cuốn sách sống động và thông tuệ này cung cấp lối vào lý tưởng cho việc tư duy về nghệ thuật. Cynthia Freeland tường giải việc tại sao trong nghệ thuật, sự cách tân và tai tiếng luôn là những gì nổi lên hàng đầu, và việc tại sao điều này lại khiến chúng ta suy nghĩ. Bà thảo luận về mối quan hệ của nghệ thuật với cái Đẹp, văn hoá, tiền bạc, tình dục, và công nghệ mới, cũng như dẫn ra các ví dụ đi từ Rembrandt, Goya, Damien Hirst, cho tớ các tượng thờ đóng đinh châu Phi, vũ điệu của bộ tộc da đỏ Puebo, và MTV.
Cuốn sách Thế mà là nghệ thuật ư? (But is it art?) của Cynthia Freeland nhìn một cách nào đó, chính là một trong những thực hành thuộc mô hình giáo dục xã hội hóa nghệ thuật nói trên. Trong suốt hơn 200 trang sách, ngắn gọn và cô đọng, được viết với một văn phong trong sáng và thông tuệ, cả một lịch sử dài các khái niệm về nghệ thuật, không chỉ của riêng phương Tây, mà còn từ phương Đông, đã được điểm qua và phân tích. Qua cuốn sách, người đọc chúng ta sẽ có một cái nhìn rõ ràng và có lẽ sẽ phần nào được cắt nghĩa rằng, khái niệm về nghệ phẩm và nghệ thuật, theo thời gian, đã phát triển để không chỉ còn là một khái niệm thuộc về cái Đẹp, khơi gợi thẩm mỹ, mà còn là một công cụ nhận thức, qua đó, phản chiếu các biến cố, các thông điệp xã hội, chính trị của nghệ sỹ. Người đọc chúng ta cũng sẽ được tiếp cận với hầu hết các lý thuyết mới nhất về nghệ thuật hiện đang chi phối mặt bằng phê bình nghệ thuật phương Tây, như lý thuyết nghệ thuật vị định thế (Institutional theory of art), lý thuyết nghệ thuật vị triết (Philosophical theory of Art), để rồi qua đó, có thể nắm bắt phần nào được phương cách mà nghệ thuật đương đại thế giới hiện nay đang được quan niệm, diễn giải và khởi hoạt. Một điểm đặc biệt của cuốn sách này là, khi đề cập tới sự phát triển của các khái niệm nghệ thuật, nó không chỉ nhìn nhận các khái niệm ấy trong những hệ thống lý thuyết đóng- mà còn liên đới chúng tới các hệ thống ngoại vi về mặt xã hội và chính trị, song có quan hệ chặt chẽ tới sự hình thành và khai triển các khái niệm ấy, trong đó có hệ thống các định chế nghệ thuật -như bảo tàng và các bộ sưu tập nghệ thuật cá nhân, hoặc hệ thống các khái niệm và biến cố về chính trị, khoa học, xã hội - như sự phát triển của ngành khoa học nhận thức, của Nữ quyền luận, của quan điểm Hậu Thực dân, v.v... Nói cách khác, bằng một tiếp cận mang tính nhân học, cuốn sách này đã liên đới nghệ thuật với tất cả những yếu tố ngoại vi mà nó cho là có tác động tương tác tới những cuộc chuyển hóa của chính khái niệm nghệ thuật.
Cynthia Freeland là Giáo sư Triết học tại Đại học Houston, Texas. Bà viết các cuốn The Naked and the Undead: Evil and the Appeal of Horror, Feminist Interpretations of Aristotle, và Philosophy and Film...
Vài lời của người dịch
Lời cảm ơn
Danh mục phụ bản màu
Danh mục phụ bản đen trắng
Dẫn nhập
Chương 1: Máu và cái đẹp
Chương 2: Các hệ hình và mục đích
Chương 3: Các giao cắt văn hoá
Chương 4: Tiền bạc, thị trường, bảo tàng
Chương 5: Giới tính, thiên tài và các Nữ du kích
Chương 6: Nhận thức, sáng tạo, thấu tỏ
Chương 7: Số hoá và sự truyền bá
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Đọc thêm
Bảng chỉ mục
“Tôi chưa từng thấy một tác phẩm nào uyển chuyển và tự tin đến thế, khi dấn bước vào các vùng chiến địa của nghệ thuật và xã hội ngày nay như tác phẩm này”
– Arthur. C. Danto
“Thật là một cảm giác khoan khoái và thoả mãn sâu sắc... với giọng điệu lôi cuốn và đầy nhiệt huyết, Freeland đã tận tình chỉ dẫn cho người đọc, chưa nói đến cách tổ chức các ví dụ hấp dẫn đến kinh ngạc giúp minh hoạ và làm sinh động sự tường giải của bà”
– Don Bacigalupi, Giám đốc Bảo tàng Nghệ thuật San Deigo

Khát Vọng Chân – Thiện – Mỹ

Tác giả: #Lê_Công_Sự Ngày cập nhật: 21-04-2018
Chân (Truth), Thiện (Goodness), Mỹ (Beauty) là ba giá trị nhân bản đồng hành cùng nhân loại từ khi con người có mặt trên Trái đất cho đến tận ngày nay, chúng cùng tồn tại như một chỉnh thể không thể thiếu mà người ta thường gọi là Golden Mean (chuẩn mực vàng) trong mọi lĩnh vực. Chân, Thiện, Mỹ không phải là những phạm trù trừu tượng, mà được nhìn nhận một cách cụ thể trong các lĩnh vực đời sống và khoa học. Chân, Thiện, Mỹ đồng thời mang tính lịch sử, mỗi thời đại khác nhau người ta quan niệm không giống nhau. Triết gia Đức Immanuel Kant khi xây dựng hệ thống triết học đã đặt ra ba câu hỏi: Tôi có thể biết được điều gì? Tôi có thể làm gì? Tôi có thể tin vào điều gì? Sau khi trả lời ba câu hỏi đó, ông đặt ra một câu hỏi tiếp theo: Con người là gì? Chính ở đây, ông đã gợi ý cho chúng ta rằng, con người như một chỉnh thể thống nhất giữa Chân, Thiện, Mỹ. Trần Đức Thảo trong Một hành trình (Paris 1992) viết: “Khi tự vấn mình, ý thức đòi hỏi cái Thiện trong hành động, cái Chân trong tri thức, và cái Mỹ trong sự hoàn thành các quá trình nghiệm sinh, qua đó ý thức biến thế giới tự nhiên thành một nhân giới, xứng đáng với con người
….

"Trong một thế giới đầy biến động và phức tạp như ngày nay, tư tưởng của các danh nhân có giá trị thời sự to lớn, cung cấp cho nhân loại tiến bộ những tri thức về thế giới quan và phương pháp luận để sống và hành động làm sao đó vừa phát triển khoa học công nghệ, đẩy mạnh sản xuất, vừa giữ được môi trường sinh thái, tình người và cuộc sống hòa bình. Tương lai của nhân loại phụ thuộc nhiều vào thái độ sống và cách hành xử của con người thời hiện tại. Nếu số phận của một cá nhân phụ thuộc vào tính cách chung của nhân loại. Nhân loại hãy chung tay góp sức khai mở tâm thức, đề cao tính thiện và sống đẹp để bảo vệ lấy tương lai của mình – đó là sự mong ước duy nhất của chúng tôi khi khai bút viết về cuốn sách này và cũng là mong ước khi viết lời kết cho nó.’’
Trích Sống thiện và sống đẹp, "Khát vọng Chân – Thiện – Mỹ", Lê Công Sự, Nhà xuất bản Tri thức 2017

Mục lục
Đôi lời cùng bạn đọc
Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành
Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp Tự nhiên
Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân
Một con người không thể tắm hai lần trong một dòng sông
Sự thật và Nghịch lý
Con người hãy tự nhận thức chính mình
Giáo dục chân chính như là sự định hướng
Con người là động vật chính trị
Người bắt Mặt trời đứng lại cho Trái đất quay
Dù sao Trái đất vẫn quay
Tri thức là sức mạnh
Chiến tranh là điều không thể tránh
Quyền lực chính trị và xã hội dân sự
Sự cảnh báo về hiểm họa dân số
Nguồn gốc các loài từ cái nhìn khoa học
Người đánh thức văn hóa nguyên thủy
Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại
Người khai sinh thế kỷ Ánh sáng
Pháp luật là tối thượng
Pháp luật là hợp đồng dân sự
Người được mệnh danh là kẻ thù của Chúa
Antinomy là bản tính của tư duy
Nghệ thuật như là sự biểu hiện của ý niệm tuyệt đối
Không phải Thượng Đế sáng tạo nên con người
Chính trị là một hình thức tôn giáo
Tôi có một giấc mơ
Lòng tự trọng cao hơn mạng sống
Vương quốc của Chúa trong lòng bạn
Vô thức là động lực cuộc sống
Chân lý là địa hạt không có lối vào
Người ta sinh ra không phải là đàn bà
Ý nghĩa chính trị của một công thức kinh tế
Tự do và tình yêu, vì các ngươi ta sống
Khoa học bắt đầu từ sự ngạc nhiên
Chính trị chỉ nhất thời, phương trình là vĩnh cửu
Chân lý giúp con người vượt lên số phận
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Đạo ở mình, ta lấy đạo trung
Đau đớn thay, phận đàn bà
Người sinh ra giữa buổi giao thời
Tư duy siêu hình là lực cản phát triển
Thay lời kết: Sống đúng là sống thiện và sống đẹp.

Tác giả
PGS.TS Lê Công Sự, sinh năm 1959 tại Kỳ Phương, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Tốt nghiệp phân khoa Vô thần, khoa Triết học, Đại học Tổng hợp Leningrad, Liên bang Nga (1985). Thạc sĩ triết học (1996), Tiến sĩ triết học (2004), PGS (2014). Hiện là chủ nhiệm bộ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-LêNin, Đại học Hà Nội.

Các sách đã xuất bản:
- "Triết học cổ điển Đức", NXB Thế giới, 2006

- "Học thuyết phạm trù trong triết học Kant", NXB CTQG, 2007


- "Học thuyết phạm trù trong triết học Mác – LêNin", NXB CTQG, 2009

- "Ngôn ngữ và văn hóa", NXB Văn học, 2012


- "Con người qua lăng kính triết gia", NXB CTQG, 2012


- "Triết học cổ đại", NXB CTQG, 2014.


Minh triết thiêng liêng - Tập 1

Tác giả: #Hamvas_Béla Ngày cập nhật: 21-04-2018
"Câu hỏi của sáu trăm năm không phải là đã từng có hay không thời hoàng kim, mà là: có thể quay lại hay không thời hoàng kim?
Đây là câu hỏi được nhắc lại thường xuyên, bí ẩn nhưng duy nhất của đời sống từ trước tới nay: có thể lấy lại được hay không vương quốc Ver quý giá đã mất, nơi không có những hàm răng nghiến chặt. Hoặc nếu không, có thể xây dựng lại nó một lần nữa được chăng?
Bởi vì thời hoàng kim không là gì khác ngoài hình ảnh cổ của đời sống. Đây là một đời sống mở, là sự sống đã hoàn thành, định hình, vẹn toàn, toàn diện, đầy đủ. Và bởi thời hoàng kim là sự sống, nên nó không là gì khác ngoài đối tượng mơ ước liên tục và không ngừng nghỉ trong mọi con người và trong mọi thời gian. Còn khải huyền là một đời sống bị hư hoại và bị phá hủy, là dạng đời sống trong trạng thái nhão, không hình hài, không có cách giải quyết. Và từ khi thời hoàng kim biến mất, nhân loại sống trong khải huyền. (...)
Từ khi nhân loại bước ra khỏi thời hoàng kim, sự sống từng định hình, hoàn hảo, yên bình, hạnh phúc và toàn vẹn đã bị bóp méo và biến thành một khả năng. Hiện thực đích thực của nó bị đánh mất. Đây là ý nghĩa của sáu trăm năm (trước Công nguyên). Từ phút ấy trở đi sự sống không bao giờ có giải pháp của nó nữa, mà chỉ còn là một khả năng; không có hình hài, chỉ là khả năng; không còn sự bình yên, mà một lần nữa chỉ còn là khả năng.
Trong thời khải huyền tất cả các hình thức tổng quát và hoàn chỉnh trở thành chất lỏng: hình thức bị lỏng hóa này chính là khả năng. Khả năng này cùng những khả năng khác đều nằm trong thời khải huyền, bởi bản án luôn ở thời hiện tại, là lời kết tội của tinh thần - Thượng Đế. Bản án và lời kết tội đối với đời sống bị đứt đoạn khỏi sự sống".
(Trích Phần đầu tiên - Truyền thống minh triết cổ của nhân loại)
Hamvas Béla sinh ngày 23.3.1897 tại Eperjes (nay thuộc Slovakia) trong một gia đình Thiên Chúa giáo. Năm 1898 vì nghề nghiệp của cha, gia đình ông chuyển đến Bratislava.
Năm 1915, sau khi tốt nghiệp trung học, Hamvas Béla tình nguyện gia nhập quân đội, sau một năm, bị thương, ông trở về nhà và bắt đầu đọc Kant, Rimbaud, Dostoiepxki, Schopenhauert, nhưng trước hết ông đọc Nietzsche.
Năm 1919, cha ông vì từ chối không tuyên thệ trung thành với nước Slovakia, nên cả gia đình ông bị đuổi ra khỏi Bratislava, chuyển đến Budapest.
Từ 1919-1923 ông học khoa Hungary-Đức tại Đại học Pazmány Péter, ông làm nhà báo 3 năm tại báo Tin tức Budapest vàSzozat.
Từ 1927-1948 ông làm thủ thư tại thư viện thành phố. Thời gian này ông viết các bài nghiên cứu, tiểu luận, các bài phê bình cho 25 thể loại tạp chí, trong đó có những tạp chí nổi tiếng như Athenaeum, Nyugat.
Hamvas Béla cùng Kerényi Károly thành lập nhóm Đảo, một liên minh tinh thần lấy từ truyền thống Hi Lạp cổ, nhóm này tập trung đông đảo các nhà văn, nhà triết học có tên tuổi của Hungary như: Szerb Antal, Németh László, Kövendi Dénes, Dobrovits Aladár, Molnár Antal và nhiều người khác.
Nhưng sau ấn phẩm gồm ba tập (1935-1936) nhóm Đảo tan rã, một hoạt động cộng đồng tinh thần như thế không thể thực hiện được. Hamvas Béla đã ghi lại những kinh nghiệm cay đắng trong cuốn Hyperion Hungary:
“Tôi ở đây giữa mọi người, trên trái đất này, mọi ý định của tôi đều không có kết quả, mọi từ ngữ của tôi vô ích, mọi kế hoạch của tôi tan vỡ, tôi đã thất bại, không ai nhận ra tôi, tôi trở nên thừa thãi, và không được chấp nhận.”
Trong những năm 1930-1940 ông viết gần ba trăm tiểu luận. Đối với ông viết là thực hành yoga.
Ông lấy người vợ thứ hai, một bạn đời tinh thần rất quan trọng, bà Kemény Katalin (1909-2004), người sau khi Hamvas Béla mất, đã cùng Dúl Antal, một đại diện của hậu thế rất ngưỡng mộ ông, cùng chăm lo việc xuất bản các tác phẩm của ông.
Trong thời kì Thế chiến thứ II, Hamvas Béla ba lần bị gọi vào quân ngũ, nhưng không ngăn cản được công việc dịch thuật của ông, như tác phẩm của các tác giả: Lão Tử, Böhme, Hêraclit, Khổng Tử, Henoch.
Năm 1943-1944 ông viết tập I tác phẩm Scientia Sacra, cuốn sách đánh dấu giai đoạn sáng tác thứ hai của nhà văn. Với cuốn sách này, ông gia nhập trường phái truyền thống với những nhân vật ưu tú nhất của thời đại: Julius Evola, René Gúenon và Leopold Ziegler.
Hamvas Béla cắt nghĩa: Truyền thống là sự trường tồn phi thời gian của tinh thần. Các tác phẩm của Hamvas - đầu tiên và duy nhất - lập ra một vũ trụ truyền thống, bằng sự tạo dựng nền tảng linh hồn nhận thức ra tinh thần.
Trong thời kì chiến tranh, tập tiểu luận triết học đầu tiên ra đời: Câu chuyện vô hình (1943).
Năm 1964 ông về hưu. Trong ba năm cuối đời Hamvas Béla hoàn thành nốt các tác phẩm khác trong đó có Scientia Sacra tập II nổi tiếng.
Ông viết chủ yếu là tiểu luận, một thể loại tự do, như một thí nghiệm thể loại. Mọi sáng tác của ông, kể cả tiểu thuyết đều ở dạng tiểu luận.
Ngày 7.10.1968 ông mất sau một cơn chảy máu não.
Cho đến tận những năm 70 của thế kỉ XX, tác phẩm của Hamvas Béla chủ yếu chỉ lưu truyền dưới dạng bản thảo đánh máy.
Bắt đầu từ những năm 80, dần dần tác phẩm của Hamvas Béla được ra mắt công chúng, nhưng vẫn bị kiểm duyệt, ví dụ tiểu thuyết Karneval (1985) bị cắt xén trước khi được in.
Năm 1990, Hamvas Béla được truy tặng giải thưởng Kossuth.
Năm 1996: Giải thưởng Di Sản Hungary.
Năm 2001: Giải thưởng Vì Nghệ Thuật Hungary.
Ngày nay Hamvas Béla được đánh giá là một trong những nhà văn, nhà triết học vĩ đại nhất của châu Âu thể kỉ XX, và trong nền văn hóa Hungary.
Lời nhà xuất bản
Tiếng gọi từ “Thời Trục”

Phần đầu tiên
TRUYỀN THỐNG MINH TRIẾT CỔ CỦA NHÂN LOẠI
I. Thời hoàng kim và thời khải huyền 1
II. Sự tỉnh táo
III. Sự sống và đời sống
IV. Người thầy của đời sống
V. Ba nguồn
VI. Các truyền thống
Phần thứ hai
CON NGƯỜI CỔ ĐẠI
I. Con người theo Vedanta
II. Sruti và Smriti
III. Các hình ảnh cổ
IV. Các bến đỗ của sự sống người
V. Người đàn bà
VI. Thuyết nhân học thời cổ
Phần thứ ba
SÙNG BÁI VÀ VĂN HÓA
I. Văn hóa cổ và văn hóa thời hiện đại
II. Cổ tích da đỏ
III. Asa – Điều thiện
IV. Thuật luyện vàng
V. Siêu hình học của Yoga
VI. Sekina

Đường sống – Văn thư nghị luận chọn lọc

Tác giả: #Lev_Tolstoi Ngày cập nhật: 21-04-2018
Cuốn sách mang tên chung là Đường sống - cái tên rất giàu ý nghĩa. Lev Tolstoi là người kiên trì theo đuổi học thuyết của mình, mà học thuyết đó, theo ông là một con đường sống cho sự phát triển của nhân loại. Học thuyết mà Lev Tolstoi theo đuổi và coi là con đường sống, khác với những con đường khác. Đường sống cũng là tác phẩm cuối cùng của Tolstoi, ra mắt độc giả sau khi ông đã qua đời. Đây là cuốn sách rất dày, tập hợp những danh ngôn, những châm ngôn của các hiền triết, các triết gia, các nhà tư tưởng lớn của thế giới, nói về tất cả các phương diện của cuộc sống, các lĩnh vực của cuộc sống, về đạo đức, về giáo dục, về tín ngưỡng, v.v… chia thành 32 chương, trong đây có một chương mà tám phần mười những châm ngôn đó là của Tolstoi, ông không ghi tên tác giả. Đó là lí do cuốn sách mang tên Đường sống, nhân dịp năm nay chúng ta kỉ niệm 100 năm ngày mất của nhà văn hoá Nga Lev Tolstoi, và đây là tác phẩm cuối cùng Lev Tolstoi để lại cho loài người. Tác phẩm này, theo nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư, ngay ở Nga cũng không mấy người biết đến.
Về kết cấu cuốn sách, ban đầu, chúng tôi dự định chỉ giới thiệu một số tác phẩm nghị luận của Tolstoi. Nhưng sau đó, chúng tôi thấy thế thì không đủ, bởi vì Tolstoi không những là bậc thầy về văn nghị luận, mà ông là bậc thầy siêu đẳng của nghệ thuật thư từ. Đọc thư của ông nhiều khi thích hơn đọc văn của ông nhiều. Thư của ông sống động đến mức độ ta hình dung được ngay con người của ông. Trong kho lưu trữ của Tolstoi ở Moscow, hiện đang giữ hơn một vạn bức thư của Tolstoi và hơn năm vạn bức thư thập phương gửi đến cho ông, mà ông có trả lời hơn một vạn bức. Toàn bộ thư từ của Tolstoi được in trong Tổng tập Tolstoi, chiếm 31 tập trong 90 tập. Còn những thư từ của những người khác gửi Tolstoi thì lại được in rất rải rác, phải biết cách tìm mới tìm được ra. Nên chúng tôi thấy cần phải giới thiệu cả phần thư từ của Tolstoi để người đọc qua tiếp cận thư từ của Tolstoi sẽ hình dung được rõ hơn con người của ông, khí chất, tính khí của ông, những thiện cảm, ác cảm của ông; con người ông thể hiện qua thư từ rất rõ. Đặc biệt, Tolstoi rất gắn bó với Phương Đông, qua một con người đặc biệt của Phương Đông là Mahatma Gandhi – Thánh Gandhi, và chúng tôi biết một bộ sưu tập những thư từ giữa Tolstoi và Gandhi, nên cũng cố tìm bằng được bộ sưu tập đấy, và trong cuốn sách này có thể thấy toàn bộ thư từ giữa Tolstoi và Gandhi, bấy giờ Tolstoi đã là vĩ nhân, còn Gandhi thì trên thế giới này chưa ai biết đến, nhưng Gandhi đã tiếp thu tư tưởng của Tolstoi, đã lãnh đạo nhân dân của mình giành được độc lập theo con đường mà Tolstoi đã vạch ra; nên Gandhi suốt đời tôn sùng Lev Tolstoi là người thầy vĩ đại của mình. Qua những thư từ đấy, qua những lời phát biểu của Gandhi về Tolstoi, chúng tôi muốn để bạn đọc Việt Nam hiểu thêm thế nào là Tolstoi đối với thế giới, không phải chỉ với lĩnh vực văn học, mà đối với nhân loại, nên chúng tôi đưa phần thư từ của Tolstoi vào cuốn sách.
Ngoài ra, trong tác phẩm của ông, đến phút cuối cùng, chúng tôi cũng phải thấy là phải giành một phần cho những tư tưởng của Tolstoi về giáo dục. Ban đầu, chúng tôi thấy bộ sách này đã lớn rồi, nên định làm một cuốn sách riêng để giới thiệu những tác phẩm của Tolstoi về giáo dục. Nhưng rồi chúng tôi thấy, không biết đến bao giờ mới có thể làm được việc đó. Nên nhóm dịch giả đã thống nhất đưa vào cuốn sách này. Nhà giáo Vũ Thế Khôi rất nhiệt tình nhận dịch các tác phẩm của Tolstoi bàn về giáo dục. Trong khi những vấn đề về giáo dục hiện được nhận thức khá rõ đây là vấn đề quá nóng bỏng ở đất nước ta hiện nay. Chúng ta tham cứu được những tư tưởng về giáo dục của Tolstoi thì sẽ có thêm một hậu thuẫn chấn chỉnh nền giáo dục. Đây cũng cách đóng góp – mà nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh cư gọi là rất nhỏ nhoi của nhóm dịch, cho nền giáo dục nước nhà.
Tolstoi còn dành nhiều tâm huyết cho vấn đề đạo đức con người, liên quan chặt chẽ với vấn đề giáo dục. Ông đặt vấn đề là làm sao con người có một nền đạo đức đích thực, một nền đạo đức bất di bất dịch, không gì phá vỡ được. Tolstoi có hẳn một hệ quan điểm thế nào là đạo đức của con người và loài người, và làm thế thế nào để giữ và phát triển được điều đó. Đây là một trọng điểm trong cuốn sách này, nhóm dịch giả trong theo đuổi điều này trong quá trình tuyển chọn, dịch thuật các tư liệu về Tolstoi. Mọi phát biểu của Tolstoi về đạo đức của con người và loài người đều được đưa vào cuốn sách này.
Thứ ba, là những quan điểm của Tolstoi về khoa học chân chính, về khoa học công nghiệp. Chúng ta có thể đều biết, Tolstoi phê phán rất gay gắt nền văn minh hiện đại, khoa học hiện đại. Nhưng Tolstoi phê phán như thế nào, tinh thần phê phán của Tolstoi như thế nào, ông có phải là người cổ hủ, không hiểu biết gì mà phê phán hay không, hay ông theo đuổi một mục đích nào đó để phê phán nền khoa học hiện đại, và cả nền công nghệ hiện đại. Nền văn minh chúng ta đang sống hiện nay cũng bị Tolstoi phê phán rất gay gắt. Nhưng chúng ta phải gạt đi những nhận định, những phê phán gay gắt đấy, nhìn đằng sau những phê phán ấy, có những hạt nhân chân lý nào mà Tolstoi theo đuổi. Tôi thấy rằng, thời gian lịch sử trôi qua, chúng ta có thể bình tĩnh nhận định, tiếp thu tất cả những ý kiến phê phán và xây dựng của Tolstoi, cũng như đối với một tư tưởng rất quan trọng của Tolstoi về phi bạo lực, về lấy thiện trả ác. Tolstoi là người kiên trì xây dựng cho loài người con đường phát triển phi bạo lực, con đường phát triển đấu tranh không dùng ác để chống ác, không lấy ác để trị ác, mà chỉ lấy cái thiện để khắc phục cái ác. Tolstoi có quan niệm rất sắt đá rằng cái ác cũng như bóng tối, không thể dùng bóng tối để xua tan bóng tối, mà chỉ có thể dùng ánh sáng để xua tan bóng tối. Tolstoi kiên trì suốt đời, cổ vũ mọi người, viết thư cổ vũ từng cá nhân, hay đấu tranh với cái ác bằng con đường thiện.
Hi vọng công việc mà nhóm dịch giả Phạm Vinh Cư tiến hành sẽ được độc giả Việt Nam hưởng ứng bằng cách quan tâm đọc Lev Tolstoi hơn, và đọc không chỉ ở những tác phẩm nghệ thuật mà cả những tác phẩm nghị luận, triết học, tôn giáo học của Tolstoi nữa.
Lời nhà xuất bản
“Hành trình tư tưởng của Tolstoi nhìn từ hôm nay”

Phần I: TÁC PHẨM

Về giáo dục quốc dân
Về giáo dục và đào tạo
Tự bạch
Tín ngưỡng của tôi
Lời bạt cho Bản sonat Kreutzer
Về cuộc sống
Yêu lao động, hay là thắng lợi của nhà nông
Vương quốc của Thiên Chúa ở trong ta
Tôn giáo và đạo đức
Vô vi
Nhân hội nghị về hòa bình
Hai cuộc chiến
Lời tựa cho bài viết của Edward Carpenter "Khoa học ngày nay"
Chủ nghĩa ái quốc và chính phủ
Đừng giết người
Trả lời quyết định của thánh vụ viện ngày 20-22 tháng hai và những thư nhận được nhân cơ hội này
Tôn giáo là gì và bản chất của nó ở đâu?
Về khoan dung tín ngưỡng
Lời tựa cho tiểu sử Anh ngữ của Garrison do V.G. Chertkov và F. Holla biên soạn
Gửi nhân dân lao động
Gửi các nhà hoạt động chính trị
“Hãy tỉnh ngộ”
Chung cục một thời đại
Lời kêu gọi những người Nga
Về ý nghĩa của cách mạng Nga
Thư gửi một người Trung Quốc
Thư gửi một người Ấn Độ
Phúc đáp một phụ nữ Ba Lan
Gửi đạt hội Slave ở Sofia
Tham luận chuẩn bị cho Đại hội hòa bình tại Stokholm
Bàn thêm về khoa học
Bàn về giáo dục
Bước ngoặt không thể tránh khỏi
Chỉ một giới luật
Về chủ nghĩa xã hội
[Bài nói đã ghi âm]
Chuyện trò với thiếu nghi về những vấn đề đạo đức
Hãy tin mình
Tự nhủ
Đường sống

Phần II: THƯ TỪ

Thư của Tolstoi
Tolstoi với I.S.Turgenev
Tolstoi với Vladimir Soloviev
Tolstoi với Romain Rolland
Tolstoi với Bernard Shaw
Tolstoi với M. Gandhi
Tolstoi với Adin Ballou và Lewis G. Wilson
Tolstoi với một viên chức Mỹ
Tolstoi với hai nữ sinh da màu Mỹ
Chú thích
Tên riêng và từ đặc biệt
Bảng tra cứu vấn đề
Bảng tra tên riêng