sách hay mới nhất!

Sách của nhà phát hành: #Nhà_Xuất_Bản_Tri_Thức

Phân loại sách

Good news! chính thức liên kết với mạng xã hội mọt sách, cộng đồng review và chia sẻ sách http://obook.co/

chi tiết >>

Sức bật cho thế hệ mới

Tác giả: #REGORY_CLARK Ngày cập nhật: 17-10-2018
Lời tác giả
CUỐN SÁCH NÀY SẼ NHẬN NHIỀU Ý KIẾN TRÁI CHIỀU.

Do đó, lời đầu tiên tôi muốn khẳng định bản thảo này là do tôi viết dù các ước tính về tỉ lệ chuyển dịch xã hội trong cuốn sách là kết quả hợp tác với rất nhiều người. Việc diễn giải các bằng chứng và lí thuyết về chuyển dịch xã hội được trình bày trong cuốn sách là ý kiến của riêng tôi. Không một ai trong những người mà tôi thấy biết ơn sâu sắc được cho là ủng hộ các kết luận của cuốn sách.

Tôi cũng muốn lưu ý bạn đọc rằng tinh thần và văn phong của cuốn sách này giống như cuốn sách trước của tôi, A Farewell to Alms: A Brief Economic History of the World. Cuốn sách muốn cho bạn đọc thấy các mô hình chuyển dịch xã hội rất đơn giản có thể dự đoán chính xác kết quả của nhiều xã hội cùng thể chế. Đây là nhận định dựa trên nhiều chứng cứ không đầy đủ. Tuy có thể sai, tôi vẫn hi vọng nhận định này sẽ dẫn tới một lí thuyết chính xác và hoàn chỉnh hơn về các cơ chế chuyển dịch xã hội. Vì ngay cả trong lĩnh vực có rất nhiều hi vọng để rồi thất vọng như chuyển dịch xã hội thì chúng ta vẫn nên tiến hành thăm dò và đưa ra các phỏng đoán.
…..

Mục lục

Lời tác giả
Chương 1: Lời giới thiệu
Về giai cấp thống trị và giai cấp bị trị: Các quy luật chuyển dịch xã hội
Phần một_Chuyển dịch xã hội theo thời gian và địa điểm
Chương 2: Thụy Điển
Đã đạt được tỉ lệ chuyển dịch xã hội hoàn hảo?
Chương 3: Nước Mĩ
Miền đất của cơ hội
Chương 4: Nước Anh thời Trung cổ
Chuyển dịch xã hội thời phong kiến
Chương 5: Nước Anh thời hiện đại
Nguồn gốc sâu xa của hiện tại
Chương 6: Quy luật chuyển dịch xã hội
Chương 7: Bản chất và tác động môi trường

Phần hai_Kiểm chứng quy luật chuyển dịch xã hội
Chương 8: Ấn Độ - Đẳng cấp, chế độ nội hôn và chuyển dịch xã hội
Chương 9: Trung Quốc và Đài Loan - Chuyển dịch xã hội sau thời Mao Trạch Đông
Chương 10: Nhật Bản và Hàn Quốc - Đồng nhất và chuyển dịch xã hội
Chương 11: Chile - Chuyển dịch trong chế độ quyền lực tập trung
Chương 12: Quy luật chuyển dịch xã hội và động lực gia đình
Chương 13: Tin Lành, Do Thái, Di-gan, Hồi giáo và Coptic - Các ngoại lệ của quy luật chuyển dịch?
Chương 14: Những bất thường của chuyển dịch xã hội
Phần ba_Xã hội tốt đẹp
Chương 15: Chuyển dịch xã hội quá thấp? Chuyển dịch và bất bình đẳng

Chương 16: Thoát khỏi chuyển dịch xã hội đi xuống

Phụ lục 1: Đo lường chuyển dịch xã hội
Phụ lục 2: Suy ra tỉ lệ chuyển dịch từ tần suất tên họ
Phụ lục 3: Tìm hiểu địa vị của dòng họ
Nguồn dữ liệu cho hình và bảng
Nguồn tham khảo
Index

Điểm nhấn
Giấc mơ Mĩ, luôn nhắc kèm cụm từ “tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng” trong Tuyên ngôn Độc lập, được cho là đúng chỉ khi xã hội có tỉ lệ chuyển dịch cao. Mĩ có thể là xã hội bạo lực với ít mạng lưới an toàn cho những người sống dưới đáy xã hội đó. Nhưng với nhiều người, chuyển dịch xã hội nhanh là bằng chứng cho thấy người Mĩ sống trong một đất nước bình đẳng cơ hội, không cần biết hoàn cảnh ra đời của bạn là gì […].
Điều kiện của những người ở dưới đáy xã hội Mĩ, về của cải vật chất, sức khỏe và an toàn cá nhân, có thể rất nghiệt ngã. Nhưng với chuyển dịch nhanh, không ai với mơ ước và ý chí quyết tâm phải sống mãi trong địa ngục nghèo khổ đó. Tuy nhiên, ước tính chuyển dịch theo tên họ dường như hàm ý rằng văn kiện vào ngày lập quốc của Mĩ nên nói: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, nhưng một số người bình đẳng hơn những người khác”.
(Trích Chuyển dịch xã hội quá thấp?, "Sức bật cho thế hệ mới", GREGORY CLARK, Nguyễn Hồng dịch, NXBTT 2017)


Sâu Xa Hơn Nguyên Tắc Không Đổi

Tác giả: #Sigmund_Freud Ngày cập nhật: 17-10-2018

Sâu Xa Hơn Nguyên Tắc Không Đổi

Cuốn sách Sâu Xa Hơn Nguyên Tắc Không Đổi chứng minh rằng nếu như chúng ta đẩy đến cùng cái logic, nguyên tắc đầu tiên này dẫn chúng ta đến một cái “Sâu xa hơn” không thể bác bỏ: “xung năng chết”. Cái chết dường như không chỉ là kì hạn không thể khác của mọi sự sống, mà phiền toái hơn, còn là cái đích cuối cùng của sự sống. Đây chính là kết luận mà ông đạt tới ở những trang cuối trong chứng minh của mình: “Niềm tin mà chúng tôi đã có được, niềm tin rằng đời sống tâm trí, thậm chí có thể là đời sống thần kinh nói chung, bị thống trị bởi xu hướng hạ thấp, duy trì sự bất biến và gạt bỏ căng thẳng bên trong do các kích thích gây ra (bằng nguyên tắc Nirvana, nếu chúng ta sử dụng cách diễn tả của Barbara Low), niềm tin ấy theo chúng tôi là một trong những lí do mạnh mẽ nhất làm cho chúng tôi tin vào sự tồn tại của xung năng chết”.
Chính sự thật này là điều mà Freud mời chúng ta khám phá từng bước trong suốt phần lớn nội dung tiểu luận. Nhưng sự thật này lại che giấu/che phủ một sự thật khác, cũng quan trọng như vậy, và sự thật ấy sẽ là nội dung của phần cuối cuốn sách: nếu như sự sống vẫn tiếp nối, bất chấp xung năng chết, là bởi vì có những sức mạnh khác kháng cự xung năng này, đó là “xung năng sống” hay “xung năng sinh tồn”.

Những Thế Giới Song Song

Tác giả: #Phùng_Ngọc_Kiên Ngày cập nhật: 17-10-2018
Bản dịch văn chương, và cùng với nó là hành vi dịch, có tính không thuần chất trong hệ thống văn chương bản địa. Nó là một kẻ xa lạ, và vì thế có tính lai ghép (hybridité). Tính khác (altérité) và sự lai ghép gợi ý rằng sự có mặt của nó trong văn chương bản địa gắn với những khoảng trống luôn tiềm tàng ở mọi hệ thống. Bởi thế việc xem xét chúng mang đến cơ hội đặc biệt thú vị để đánh giá những lời đáp lại với những câu hỏi được hệ thống bản địa nêu ra. […] Cho nên với một người dịch cũng như với một nhà văn, viết văn chẳng phải là cái gì khác ngoài việc phá vỡ chính những quy tắc của mình và xã hội từng thiết lập để tạo ra thành công, cũng đồng thời có thể là những quy tắc và giới hạn mới. Nếu “viết là tìm thấy một quy tắc trên cơ sở đánh một quy tắc” của mình và người, dịch là để xâm phạm, phá vỡ những chuẩn mực hoặc điển phạm đã có nhằm tạo nên cái mới cho ta và về kẻ khác.
Một bản dịch không bao giờ có thể một lúc truyền tải kiệt cùng ý nghĩa của một bản văn, cũng như một bài phê bình chẳng bao giờ “đọc hết” một tác phẩm. Cho nên, ta buộc phải chấp nhận một thực tế rằng không bao giờ có một diễn dịch trọn vẹn về một sự thật duy nhất hay một ý nghĩa được phát lộ đối với một bí ẩn tối cao được hàm ý là thuộc về tác giả. Bởi vì ý nghĩa tiềm năng của một tác phẩm luôn là một sự tổ hợp của những cách diễn dịch hay diễn giải do người đọc nêu lên trong những hoàn cảnh cụ thể. […] Giả thiết về hành động đọc được viết lại của việc dịch văn chương, diễn dịch một tác phẩm dứt khoát không phải là duy nhất và có tính tiên nghiệm (à priori), mà đa chiều và có tính hậu nghiệm (postériori). Vì mỗi bản dịch không thể truyền tải tức thì mọi ý nghĩa có thể của bản gốc, nên việc dịch lại trở thành đương nhiên đến mức nó sẽ góp phần mang đến những sắc thái khác nhau. Việc dịch lại làm việc đọc và ngôn ngữ trở nên tươi mới (W. Benjamin), việc dịch lại kích thích nhu cầu đọc lại như một cách tái diễn giải những tác phẩm kinh điển (Calvino), dịch lại như một cách làm giàu cho chính bản gốc và di sản nhờ vào định đề dịch đa chiều. Và chính bởi thế mà đời sống tác phẩm gốc trở nên dài hơn (P. Valéry).

Mục lục
BIỂU KIẾN KINH NGHIỆM THẨM Mĩ
Thách thức và cơ hội
Tái diễn giải trong hành vi dịch
Kinh nghiệm thẩm mĩ
Thêm vài lưu ý
Về Flaubert ở Việt Nam
KHÔNG GIAN BẤT KHẢ XÂM PHẠM?
Những thế giới khác chiều
Tính bất cân xứng về giá trị
Charles
Emma
những THẾ GIỚI HƯ CẤU BIẾN DẠNG!
... Theo hình dung của người-dịch-đọc
... Theo cách viết lại của người-dịch-viết
... Về Charles
... Về Emma
Câu chuyện thị trường
NƠI CÒN LỜI KẺ KHÁC...
Bình xét tự do
Bằng sự thác lời
Bằng việc mượn ý
Kể cho ai?
Người quen!
Kẻ lạ?!
NHỮNG THẾ GIỚI SONG SONG
LỜI CUỐI SÁCH
ChỈ MỤC tên riêng và thuật ngữ
Mục lục

BIỂU KIẾN KINH NGHIỆM THẨM Mĩ

Thách thức và cơ hội

Tái diễn giải trong hành vi dịch

Kinh nghiệm thẩm mĩ

Thêm vài lưu ý

Về Flaubert ở Việt Nam

KHÔNG GIAN BẤT KHẢ XÂM PHẠM?

Những thế giới khác chiều

Tính bất cân xứng về giá trị

Charles

Emma

những THẾ GIỚI HƯ CẤU BIẾN DẠNG!

... Theo hình dung của người-dịch-đọc

... Theo cách viết lại của người-dịch-viết

... Về Charles

... Về Emma

Câu chuyện thị trường

NƠI CÒN LỜI KẺ KHÁC...

Bình xét tự do

Bằng sự thác lời

Bằng việc mượn ý

Kể cho ai?

Người quen!

Kẻ lạ?!

NHỮNG THẾ GIỚI SONG SONG

LỜI CUỐI SÁCH

ChỈ MỤC tên riêng và thuật ngữ Mục lục

BIỂU KIẾN KINH NGHIỆM THẨM Mĩ

Thách thức và cơ hội

Tái diễn giải trong hành vi dịch

Kinh nghiệm thẩm mĩ

Thêm vài lưu ý

Về Flaubert ở Việt Nam

KHÔNG GIAN BẤT KHẢ XÂM PHẠM?

Những thế giới khác chiều

Tính bất cân xứng về giá trị

Charles

Emma

những THẾ GIỚI HƯ CẤU BIẾN DẠNG!

... Theo hình dung của người-dịch-đọc

... Theo cách viết lại của người-dịch-viết

... Về Charles

... Về Emma

Câu chuyện thị trường

NƠI CÒN LỜI KẺ KHÁC...

Bình xét tự do

Bằng sự thác lời

Bằng việc mượn ý

Kể cho ai?

Người quen!

Kẻ lạ?!

NHỮNG THẾ GIỚI SONG SONG

LỜI CUỐI SÁCH

ChỈ MỤC tên riêng và thuật ngữ

Sự xây dựng cái thực ở trẻ

Tác giả: #Jean_Piaget Ngày cập nhật: 17-10-2018
…. Việc nghiên cứu trí khôn cảm giác-vận động hay thực hành trong vòng hai năm đầu của sự phát triển[1] đã cho chúng ta biết đứa trẻ trực tiếp đồng hóa môi trường bên ngoài vào chính hoạt động của mình như thế nào, rồi tiếp đó, để kéo dài sự đồng hóa ấy, trẻ tạo nên ngày càng nhiều cấu trúc sơ khai (CTSK) vừa linh hoạt vừa có năng lực tự điều phối lẫn nhau ra sao.
Vậy mà, song song với sự bao hàm tăng dần của các CTSK đồng hóa, ta có thể theo dõi sự tiến hóa liên tục của một vũ trụ bên ngoài, nói cách khác, sự phát triển đồng quy của chức năng giải thích [fonction explicative]. Thực vậy, mối liên hệ được xác lập giữa các CTSK đồng hóa càng nhiều lên thì sự tiến hóa càng bớt tập trung vào tính chủ quan đúng thực chất của chủ thể đồng hóa, để trở thành sự hiểu và diễn dịch đúng nghĩa. Chính như thế mà lúc khởi đầu hoạt động đồng hóa, một vật thể bất kì được môi trường bên ngoài đem đến cho hoạt động của chủ thể chỉ đơn giản là vật để mút, nhìn hay nắm giữ: vậy ở giai đoạn ấy, một sự đồng hóa như thế chỉ tập trung vào chủ thể đồng hóa. Trái lại, thời gian sau, cũng vật ấy biến đổi thành vật để dịch chuyển, để làm chuyển động và để sử dụng cho những mục đích ngày càng phức hợp. Cái cốt yếu vậy là trở thành tổng thể những mối quan hệ do hoạt động đặc thù [của chủ thể] kiến tạo nên giữa vật ấy với những vật khác: từ lúc ấy, đồng hóa có nghĩa là hiểu hay diễn dịch, và đồng hóa lẫn lộn với đặt các mối quan hệ. Bởi chính việc chủ thể đồng hóa đi vào mối quan hệ tương hỗ với các vật được đồng hóa: bàn tay cầm nắm, miệng mút, hay mắt nhìn, không chỉ hạn chế trong một hoạt động không có ý thức về bản thân nó mặc dù tập trung vào chính nó, mà chúng [bàn tay, miệng, mắt] được chủ thể quan niệm như những sự vật giữa các sự vật và như giữ những mối quan hệ tương thuộc với vũ trụ.
Dẫn nhập
Chương i: sự phát triển ý niệm vật thể
§1. Hai giai đoạn đầu: không hề có hành vi đặc biệt liên quan đến các vật biến mất
§2. Giai đoạn ba: sự khởi đầu tính thường trực kéo dài các vận động điều tiết
§3. Giai đoạn bốn: tìm kiếm tích cực vật biến mất nhưng không tính đến sự kế tiếp của những dịch chuyển nhìn thấy
§4. Giai đoạn năm: trẻ tính đến những dịch chuyển kế tiếp nhau của vật
§5. Giai đoạn sáu: sự biểu trưng các dịch chuyển không nhìn thấy được

§6. Các quá trình tạo lập ý niệm vật thể

Chương ii: trường không gian và sự kiến tạo các nhóm dịch chuyển
§1. Hai giai đoạn đầu: các nhóm thực hành và không đồng chất
§2. Giai đoạn ba: sự điều phối các nhóm thực hành và sự tạo lập các nhóm chủ quan
§3. Giai đoạn bốn: chuyển từ các nhóm chủ quan sang các nhóm khách quan và khám phá các thao tác thuận nghịch
§4. Giai đoạn năm: các nhóm “khách quan”


§5. Giai đoạn sáu: các nhóm biểu trưng


§6. Những quá trình xây dựng không gian


Chương iii
§1. Hai giai đoạn đầu tiên: bắt đầu tiếp xúc giữa hoạt động nội tâm và môi trường bên ngoài và tính nhân quả đặc thù của các ctsk cấp một


§2. Giai đoạn ba: tính nhân quả ảo tượng [magico-phénoméniste]
§3. Giai đoạn bốn: sự ngoại hiện và khách quan hóa sơ cấp của tính nhân quả
§4. Giai đoạn năm: sự khách quan hóa và không gian hóa thực của tính nhân quả
§5. Giai đoạn sáu: tính nhân quả biểu trưng và tàn dư của tính nhân quả thuộc các kiểu trước


§6. Sự ra đời tính nhân quả


Chương iv: trường thời gian


§1. Hai giai đoạn đầu tiên: thời gian đặc thù và các loạt thực hành
§2. Giai đoạn ba: các loạt chủ quan


§3. Giai đoạn bốn: bắt đầu sự khách quan hóa thời gian


§4. Giai đoạn năm: các “loạt khách quan”


§5. Giai đoạn sáu: các “loạt biểu trưng”
Kết luận: sự kiến tạo vũ trụ


§1. Đồng hóa và điều tiết


§2. Chuyển từ trí khôn cảm giác-vận động qua tư duy khái niệm
§3. Từ vũ trụ cảm giác-vận động đến biểu trưng thế giới của trẻ em
§4. Từ vũ trụ cảm giác-vận động qua biểu trưng thế giới của trẻ em
§5. Kết luận


Những thuật ngữ dùng trong ba tập sách đầu của Piaget

Jean Piaget (9/8/1896-16/9/1980): triết gia, nhà tâm lí học người Thụy Sĩ sử dụng tiếng Pháp, nổi tiếng thế giới qua sự nghiệp nghiên cứu quá trình nhận thức của trẻ em. Lí thuyết về phát triển nhận thức và quan điểm tri thức học của ông được gọi chung là “tri thức học sinh-triển” (genetic epistemology).

Ông hết sức coi trọng việc giáo dục trẻ em. Là Giám đốc Văn phòng Giáo dục Quốc tế, năm 1934 Piaget đã tuyên bố: “Chỉ có giáo dục có khả năng cứu các xã hội của chúng ta khỏi sự sụp đổ có thể xảy ra, sụp đổ dữ dội hay từng bước”.

Ông lập ra Trung tâm Tri thức học Di truyền tại Genève vào năm 1955, và lãnh đạo Trung tâm cho đến khi qua đời.

Tấm Lưới Sự Sống

Tác giả: #Fritjof_Capra Ngày cập nhật: 17-10-2018

Tấm Lưới Sự Sống

Có thể coi đây là chủ đề ở tuyến tiên phong khoa học suốt gần một thế kỉ chuyển đổi tận gốc rễ từ một khuôn mẫu cơ giới luận sang thế giới quan sinh thái: “Ngày nay sự dịch chuyển khuôn mẫu trong khoa học, ở mức sâu sắc nhất của nó, mang ý nghĩa một dịch chuyển từ vật lí học sang các khoa học sự sống...”

Với tư cách là một nhà vật lí lí thuyết, Fritjof Capra đã trải nghiệm cay đắng cuộc “động đất” của quan niệm vật lí học đầu thế kỉ 20, chứng kiến bao nhiêu cuộc “thăng trầm” đầy kịch tính của rất nhiều trường phái khoa học và triết học, mà tác giả nhận thức như hàng loạt cuộc “khủng hoảng thế giới quan”.

Tác giả đã được tiếp cận nhiều thành tựu rực rỡ của khoa học thế kỉ 20, mở ra chân trời mới cho cái gọi là “tầm nhìn tổng thể-hệ thống”: “Động lực học phi tuyến”, “Hệ phát tán tự-tổ chức”, “Động lực học mạng lưới”, v.v. cho phép tích hợp tri thức liên ngành, xây dựng “phương pháp luận khoa học mạng lưới”, trong đó có Tấm Lưới Sự Sống

Khuôn mẫu tư duy phương Tây, vốn ảnh hưởng sâu sắc vào tri thức nhân loại nhiều thế kỉ trước đây, bao gồm rất nhiều ý tưởng và giá trị bảo thủ kiên cố, trong số chúng có thể kể ra: Quan niệm vũ trụ như hệ thống các cỗ máy khổng lồ chứa các khối xây dựng cơ bản; Quan niệm cơ thể con người cũng như cỗ máy.

Quan niệm cuộc sống trong xã hội như là một cuộc đấu tranh sinh tồn; Niềm tin vào sự tiến bộ vật chất vô hạn định sẽ đạt được thông qua tăng trưởng kinh tế và công nghệ; Và cuối cùng, nhưng không phải là ít nhất, niềm tin rằng một xã hội trong đó nữ giới luôn luôn xếp bậc thấp hơn nam giới chính là một xã hội phù hợp quy luật tự nhiên. Tất cả các điều ngộ nhận ấy đã bị các sự kiện gần đây đặt trước những thách thức trầm trọng. Và quả thực việc xem xét lại chúng tận gốc rễ hiện đang diễn ra.

Việc mô tả bối cảnh tích hợp ngày càng cao, càng sâu của các khoa học liên ngành đã trở thành chủ đề mà tác giả Fritjof Capra đeo đuổi suốt nhiều chục năm ròng, không chỉ như một học giả uyên bác-liên ngành, mà còn như một nhà tư tưởng-cách tân đầy nhiệt huyết. Nguyên bản tiếng Anh của cuốn sách này lần đầu ra mắt năm 1996, đã luôn thu hút được sự chú ý của người đọc rộng rãi hầu khắp thế giới, ở hầu khắp các lĩnh vực tri thức, và hai mươi năm qua cuốn sách càng tỏ rõ sức truyền cảm hứng với nhiều điều “tiên tri” đang dần dần trở thành hiện thực.

Cuốn sách này chia sẻ tầm nhìn mạng lưới đang đột sinh đầy triển vọng mà tác giả đã và đang tận tình truyền đạt.

Cuộc cách mạng ngược trong khoa học

Tác giả: #F._A._Hayek Ngày cập nhật: 17-10-2018
Cuộc cách mạng ngược trong khoa học là tác phẩm Hayek trình bày đầy đủ nhất quan điểm của ông về hệ thống phương pháp luận trong lĩnh vực khoa học xã hội. Cuốn sách gồm ba phần, tương đương với ba bài luận được ông đăng trên chuyên san Economica trong giai đoạn 1941-1944. Phần đầu đưa ra những khác biệt nền tảng về đối tượng và phương pháp nghiên cứu giữa lĩnh vực khoa học xã hội và lĩnh vực khoa học tự nhiên, và lí giải tại sao việc áp dụng một cách mù quáng phương pháp nghiên cứu của lĩnh vực sau vào lĩnh vực đầu - thái độ mà ông gọi là chủ nghĩa duy khoa học (scientism) - lại dẫn đến sai lầm. Phần hai là một nghiên cứu về lịch sử tư tưởng của chủ nghĩa duy khoa học. Hayek chỉ ra rằng cái nôi của sự ngạo mạn duy khoa học là Trường Đại học Bách khoa Paris; Saint-Simon là người ươm mầm các ý tưởng của chủ nghĩa này; Auguste Comte và những người theo chủ nghĩa Saint-Simon là những người phát triển và truyền bá tư tưởng. Phần ba của cuốn sách là một nghiên cứu so sánh tư tưởng của hai triết gia thế kỉ XIX, Georg Wilhelm Friedrich Hegel, người Đức, và Auguste Comte, người Pháp. Ông cho rằng, mặc dù hai triết gia này rất khác nhau trên phương diện triết học cũng như tuổi đời, họ lại cùng chia sẻ những quan niệm cơ bản của chủ nghĩa duy khoa học, và đó là nguyên nhân khiến cho triết lí về nhà nước toàn trị của họ tương tự.
Lời giới thiệu
Lời tựa ấn bản tiếng Anh (1952)
Phần I: CHỦ NGHĨA DUY KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU VỀ XÃ HỘI
1. Ảnh hưởng của lĩnh vực khoa học tự nhiên đối với lĩnh vực khoa học xã hội 2. Vấn đề và phương pháp nghiên cứu của lĩnh vực khoa học tự nhiên 3. Đặc tính chủ quan của dữ liệu trong các ngành khoa học xã hội
4. Phương pháp theo cá thể luận và “compozit” trong lĩnh vực khoa học xã hội 5. Khách quan luận trong chủ nghĩa duy khoa học
6. Tập thể luận trong chủ nghĩa duy khoa học
7. Duy sử luận trong chủ nghĩa duy khoa học
8. Các hệ thống tổ chức xã hội “hướng đích”
9. Định hướng “có ý thức” và sự phát triển của lí tính
10. Kĩ sư và nhà hoạch định
Phần II: CUỘC CÁCH MẠNG NGƯỢC TRONG KHOA HỌC
11. Khởi nguồn của sự ngạo mạn duy khoa học: trường Đại học Bách khoa Paris
12. Người gieo mầm ý tưởng: Henri De Saint-Simon
13. Vật lí xã hội: Saint-Simon và Comte
14. Tôn giáo của giới kĩ sư: Enfantin và những người theo chủ nghĩa Saint-Simon
15. Ảnh hưởng của chủ nghĩa Saint-Simon
16. Xã hội học: Comte và các môn đồ
PHẦN III: COMTE VÀ HEGEL
17. Comte và Hegel
Thực ra, việc dùng lí luận để thuyết phục lí tính con người hiểu được những giới hạn của chính nó là một nhiệm vụ cực kì khó khăn, nhưng lại rất có ý nghĩa. Một nhân tố cần thiết cho sự phát triển của lí tính là chúng ta, như là những cá nhân, nên chịu khuất phục trước những thế lực và tuân theo những nguyên lí mà chúng ta không hi vọng có thể hiểu được đầy đủ, huống hồ chúng lại là cơ sở cho sự tiến bộ, và thậm chí, sự bảo tồn cho nền văn minh con người. Về mặt lịch sử, điều này đạt được thông qua ảnh hưởng của nhiều tín ngưỡng tôn giáo khác nhau và thông qua phong tục truyền thống cùng sự mê tín; những thứ này khiến con người chịu quy phục trước những thế lực không thể giải thích kia không phải vì chúng đánh vào lí tính mà là vào xúc cảm của con người. Giai đoạn nguy hiểm nhất trong sự phát triển của nền văn minh nhân loại rất có thể là giai đoạn mà tại đó con người coi tất cả những niềm tin này là mê tín, và từ chối chấp nhận hay quy phục bất cứ điều gì anh ta không hiểu được bằng lí tính. Vì thế, người theo chủ nghĩa duy lí, người mà lí tính của anh ta không đủ hoàn thiện để chỉ bảo cho anh ta thấy đâu là những giới hạn của sức mạnh của lí tính có ý thức, người coi thường tất cả những thể chế và phong tục không được hình thành theo chủ ý, sẽ trở thành kẻ phá hủy nền văn minh được xây dựng dựa trên những thể chế và tập tục đó.
(Trích 9. Định hướng “có ý thức” và sự phát triển của lí tính, Cuộc cách mạng ngược trong khoa học, Nhà xuất bản Tri Thức 2017)
FRIEDRICH AUGUST HAYEK (08/05/1899-23/03/1992), Tiến sĩ luật, Tiến sĩ khoa học (Vienna), Tiến sĩ khoa học (Econ) (London), Giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Salzburg, Áo, 1970-1974. Học tại Đại học Vienna, là Giám đốc Viện Nghiên cứu Kinh tế Áo, 1927-1931, và là Giảng viên Kinh tế học tại Đại học Vienna, 1929-1931. Giáo sư Tooke về Khoa học Kinh tế và Thống kê tại Đại học London 1931-1950. Giáo sư Khoa học Xã hội và Đạo đức, Đại học Chicago, 1950-1962. Giáo sư Kinh tế, Đại học Freiburg i.Brg., Tây Đức, 1962-1968. Ông được trao giải thưởng Nobel kinh tế năm 1974. Các công trình quan trọng nhất của Giáo sư Hayek bao gồm Monetary Theory and the Trade Cycle (1933), The Pure Theory of Capital (1941), The Road to Serfdom (1944), Individualism and Economic Order (1948), The Counter-Revolution of Science (1952), và The Constitution of Liberty (1960). Các tác phẩm cuối cùng của ông là tập hợp các bài viết dưới nhan đề Studies in Philosophy, Politics and Economics (1967), Law, Legislation and Liberty (Vol. I, 1973; Vol. ll, 1976; Vol. Ill, 1979), và The Fatal Conceit: The Errors of Socialism (1990). Ông cũng biên tập một vài cuốn sách và đã công bố một số bài báo trên Economic Journal, Economica và các tạp chí khác

Khát Vọng Chân – Thiện – Mỹ

Tác giả: #Lê_Công_Sự Ngày cập nhật: 17-10-2018
Chân (Truth), Thiện (Goodness), Mỹ (Beauty) là ba giá trị nhân bản đồng hành cùng nhân loại từ khi con người có mặt trên Trái đất cho đến tận ngày nay, chúng cùng tồn tại như một chỉnh thể không thể thiếu mà người ta thường gọi là Golden Mean (chuẩn mực vàng) trong mọi lĩnh vực. Chân, Thiện, Mỹ không phải là những phạm trù trừu tượng, mà được nhìn nhận một cách cụ thể trong các lĩnh vực đời sống và khoa học. Chân, Thiện, Mỹ đồng thời mang tính lịch sử, mỗi thời đại khác nhau người ta quan niệm không giống nhau. Triết gia Đức Immanuel Kant khi xây dựng hệ thống triết học đã đặt ra ba câu hỏi: Tôi có thể biết được điều gì? Tôi có thể làm gì? Tôi có thể tin vào điều gì? Sau khi trả lời ba câu hỏi đó, ông đặt ra một câu hỏi tiếp theo: Con người là gì? Chính ở đây, ông đã gợi ý cho chúng ta rằng, con người như một chỉnh thể thống nhất giữa Chân, Thiện, Mỹ. Trần Đức Thảo trong Một hành trình (Paris 1992) viết: “Khi tự vấn mình, ý thức đòi hỏi cái Thiện trong hành động, cái Chân trong tri thức, và cái Mỹ trong sự hoàn thành các quá trình nghiệm sinh, qua đó ý thức biến thế giới tự nhiên thành một nhân giới, xứng đáng với con người
….

"Trong một thế giới đầy biến động và phức tạp như ngày nay, tư tưởng của các danh nhân có giá trị thời sự to lớn, cung cấp cho nhân loại tiến bộ những tri thức về thế giới quan và phương pháp luận để sống và hành động làm sao đó vừa phát triển khoa học công nghệ, đẩy mạnh sản xuất, vừa giữ được môi trường sinh thái, tình người và cuộc sống hòa bình. Tương lai của nhân loại phụ thuộc nhiều vào thái độ sống và cách hành xử của con người thời hiện tại. Nếu số phận của một cá nhân phụ thuộc vào tính cách chung của nhân loại. Nhân loại hãy chung tay góp sức khai mở tâm thức, đề cao tính thiện và sống đẹp để bảo vệ lấy tương lai của mình – đó là sự mong ước duy nhất của chúng tôi khi khai bút viết về cuốn sách này và cũng là mong ước khi viết lời kết cho nó.’’
Trích Sống thiện và sống đẹp, "Khát vọng Chân – Thiện – Mỹ", Lê Công Sự, Nhà xuất bản Tri thức 2017

Mục lục
Đôi lời cùng bạn đọc
Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành
Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp Tự nhiên
Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân
Một con người không thể tắm hai lần trong một dòng sông
Sự thật và Nghịch lý
Con người hãy tự nhận thức chính mình
Giáo dục chân chính như là sự định hướng
Con người là động vật chính trị
Người bắt Mặt trời đứng lại cho Trái đất quay
Dù sao Trái đất vẫn quay
Tri thức là sức mạnh
Chiến tranh là điều không thể tránh
Quyền lực chính trị và xã hội dân sự
Sự cảnh báo về hiểm họa dân số
Nguồn gốc các loài từ cái nhìn khoa học
Người đánh thức văn hóa nguyên thủy
Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại
Người khai sinh thế kỷ Ánh sáng
Pháp luật là tối thượng
Pháp luật là hợp đồng dân sự
Người được mệnh danh là kẻ thù của Chúa
Antinomy là bản tính của tư duy
Nghệ thuật như là sự biểu hiện của ý niệm tuyệt đối
Không phải Thượng Đế sáng tạo nên con người
Chính trị là một hình thức tôn giáo
Tôi có một giấc mơ
Lòng tự trọng cao hơn mạng sống
Vương quốc của Chúa trong lòng bạn
Vô thức là động lực cuộc sống
Chân lý là địa hạt không có lối vào
Người ta sinh ra không phải là đàn bà
Ý nghĩa chính trị của một công thức kinh tế
Tự do và tình yêu, vì các ngươi ta sống
Khoa học bắt đầu từ sự ngạc nhiên
Chính trị chỉ nhất thời, phương trình là vĩnh cửu
Chân lý giúp con người vượt lên số phận
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Đạo ở mình, ta lấy đạo trung
Đau đớn thay, phận đàn bà
Người sinh ra giữa buổi giao thời
Tư duy siêu hình là lực cản phát triển
Thay lời kết: Sống đúng là sống thiện và sống đẹp.

Tác giả
PGS.TS Lê Công Sự, sinh năm 1959 tại Kỳ Phương, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Tốt nghiệp phân khoa Vô thần, khoa Triết học, Đại học Tổng hợp Leningrad, Liên bang Nga (1985). Thạc sĩ triết học (1996), Tiến sĩ triết học (2004), PGS (2014). Hiện là chủ nhiệm bộ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-LêNin, Đại học Hà Nội.

Các sách đã xuất bản:
- "Triết học cổ điển Đức", NXB Thế giới, 2006

- "Học thuyết phạm trù trong triết học Kant", NXB CTQG, 2007


- "Học thuyết phạm trù trong triết học Mác – LêNin", NXB CTQG, 2009

- "Ngôn ngữ và văn hóa", NXB Văn học, 2012


- "Con người qua lăng kính triết gia", NXB CTQG, 2012


- "Triết học cổ đại", NXB CTQG, 2014.


Nền Dân Trị Mỹ

Tác giả: #Alexis_De_Tocqueville Ngày cập nhật: 17-10-2018
Cuốn sách này không thực sự nhằm vào một đối tượng nào. Khi viết sách này, tác giả không quan tâm phục vụ hoặc chống lại bất kỳ phe phái nào. Tác giả tìm cách hiểu thấu vấn đề không theo cách làm cho nó khác đi mà theo cách nhìn xa hơn các phe phái. Và trong khi các phe phái lo toan đến ngày mai thì tôi muốn lo nghĩ cho tương lai.

Theo tác giả, nền dân trị hứa hẹn được những gì cho tương lai là tuỳ thuộc vào yếu tố quyết định: tinh thần trách nhiệm của các công dân đối với cộng đồng. Từ đó, ông đặt ra hàng loạt vấn đề còn nóng bỏng tính thời sự:

- Nên mạnh dạn thực hiện nền dân trí đến đâu?

- Làm thế nào để hợp nhất sự tham gia của toàn dân với thể chế chính trị đại diện?

- Xã hội hiện đại đứng trước nguy cơ nào khi sự thờ ơ, tính phi chính trị và xu hướng trở về với cuộc sống riêng tư ngày càng gia tăng trong nhân dân?

- Làm sao cân đối được mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế, giữa cá nhân và xã hội: hay nói cách khác, giữa tự do và bình đẳng?
Mốc niên biểu tiểu sử de Tocqueville
Alexis de Tocqueville và sự trầm tư về nền dân trí (Bùi Văn Nam Sơn)
Thư mục chọn lọc
Lưu ý
Lời dẫn nhập
Phần I.
Chương I. Cấu hình bề mặt của Bắc Mỹ
Chương II. Về điểm xuất phát và tầm quan trọng của nó đối với tương lai người Mỹ gốc Anh
Lý giải một số điểm đặc biệt trong luật pháp và tập tục của người Mỹ gốc Anh
Chương III. Trạng thái xã hội người Mỹ gốc Anh
Điều nổi bật của trạng thái xã hội người Mỹ gốc Anh là sự dân chủ mang tính bản chất
Hệ quả chính trị của trạng thái xã hội người Mỹ gốc Anh
Chương IV. Về nguên lý nhân dân tối thượng ở nước Mỹ.
Chương V.
Cần thiết phải nghiên cứu những gì đã xảy ra ở các bang riêng rẽ trước khi nói đến chính quyền liên bang
Hệ thống công xã nước Mỹ
Khu vực hành chính của công xã
Quyền hành của công xã ở New - England
Cung cách tồn tại của công xã
Về tinh thần công xã tại New - England

Phần II
Chương I. Làm sao có thể nói một cách chặt chẽ là ở Hoa Kỳ chính nhân dân là người cầm quyền
Chương II.
Về các chính đảng ở Hoa Kỳ
Về những tàn dư của đảng của phe quý tộc tại Hoa Kỳ
Chương III. Về tự do báo chí ở Hoa Kỳ
Chương IV. Về việc lập đoàn thể chính trị ở Hoa Kỳ
Chương V.
Về chính quyền dân trị ở nước Mỹ
Về phổ thông đầu phiếu
Về những chọn lựa của nhân dân và về những bản năng dân chủ của người Mỹ trong những chọn lựa của họ
Về những nguyên nhân khiến cho những bẳn năng dân chủ đó có thể được chỉnh sửa đôi chút
Ảnh hưổng của nền dân trị Mỹ đối với các bộ luật bầu cử
Về các công chức dưới thời nền dân trị Mỹ

Phần III. Ảnh hưởng của nền dân trị đến sự vận động về tinh thần và trí tuệ tại Hoa Kỳ
Chương I. Về phương pháp triết học của người Mỹ
Chương II. Suối nguồn căn bản của các tín ngưỡng ở những quốc gia dân chủ
Chương III. Tại sao người Mỹ có nhiều năng lực và thị hiếu đối với những tư tưởng tổng quát hơn là người Anh - cha ông của họ
Chương IV. Tại sao người Mỹ không bao giờ đam mê những ý tưởng tổng quát thuộc lĩnh vực chính trị như người Pháp

Phần IV. Ảnh hưởng của nền dân trị đến sự vận động về tinh thần và trí tuệ tại Hoa Kỳ
Chương I. Vì sao các quốc gia dân trị lại bộc lộ một tình yêu nhiệt tình và bền vững đối với bình đẳng hơn là đối với tự do
Chương II. Về chủ nghĩa cá nhân trong các quốc gia dân chủ
Chương III. Vì sao chủ nghĩa cá nhân lại mạnh vào lúc cách mạng dân chủ mới hoàn thành hơn là vào thời kỳ khác

Phần V. Ảnh hưởng của nền dân trị đến các tập tục
Chương I. Vì sao khi các điều kiện càng được bình đẳng thì các tập tục càng trở nên dễ chịu
Chương II. Vì sao nền dân trị lại khiến cho những quan hệ thông thường giữa người Mỹ với nhâu trở nên đơn giản và thoải mái hơn
Chương III. Vì sao người Mỹ khi ở trong nước thì ít mẫn cảm mà sang Pháp lại mẫn cảm hơn nhiều

Phần VI. Về ảnh hưởng của những tư tưởng và tình cảm dân chủ đến đời sống chính trị nước Mỹ
Chương I. Quyền bình đẳng tự nhiên tạo ra cho con người sự thích thú đối với những thiết chế tự do
Chương II. Suy nghĩ của nhân dân các nước dân chủ về chính quyền tự nhiên tạo thuận lợi cho sự tập trung các loại quyền lực
Chương III. Tình cảm của những người dân chủ phù hợp với tư tưởng của họ và giúp họ tập trung được quyền lực

Bàn Về Tự Do

Tác giả: #John_Stuart_Mill Ngày cập nhật: 17-10-2018
Khác với việc tiếp cận các học thuyết tư tưởng phương Đông, việc tiếp cận các trào lưu tư tưởng tinh hoa của phương Tây đối với độc giả Việt Nam đã và vẫn đang gặp phải không ít khó khăn. Không nói tới các nhà tư tưởng cổ đại như Socrates, Plato, Aristotle, v.v… mà ngay cả các nhà tư tưởng cận đại của phong trào Khai sáng, độc giả cũng hiếm có cơ hội để có được bản dịch các tác phẩm kinh điển quan trọng. Nhìn tổng thể, có thể nói các sách biên khảo khoa học và các học thuyết quan trọng của phương Tây vẫn chưa được giới thiệu một cách nghiêm túc và hệ thống ở Việt Nam.
Khoảng trống về đề tài quan trọng này là điều bất lợi lớn với một đất nước đang muốn xây dựng nền kinh tế tri thức và mở rộng quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hoá với các nước phát triển. Trên tinh thần mong muốn truyền tải những tư tưởng đó, bồi đắp thêm những khoảng trống về tri thức còn thiếu hụt, chúng tôi xin giới thiệu với độc giả bản dịch luận văn Bàn về tự do (On Liberty - 1859) của John Stuart Mill qua bản dịch của Nguyễn Văn Trọng.
Mặc dù được viết ra cách đây đã gần 150 năm nhưng Bàn về tự do vẫn còn nguyên giá trị và là tác phẩm giữ vị trí quan trọng trong tư duy lý luận và tư tưởng phương Tây. Thời Canh tân Minh Trị ở Nhật Bản và thời Phong trào Ngũ Tứ ở Trung Quốc, hai nước đã cho dịch và phát hành rộng rãi cuốn sách này để mở mang tri thức cho dân tộc.
Là một trong những tác phẩm đầu tiên của Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới, bản dịch Bàn về tự do đã hân hạnh được GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, nguyên Viện trưởng Viện Triết học Việt Nam và dịch giả Bùi Văn Nam Sơn đọc thẩm định và đóng góp nhiều ý kiến. Ngoài ra, để thuận tiện hơn cho độc giả mới làm quen với các tác phẩm của John Stuart Mill, ngoài lời giới thiệu của GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, chúng tôi có trình bày phần tóm tắt tác giả - tác phẩm của dịch giả ở phần phụ lục.
Chúng tôi mong rằng Bàn về tự do sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo tốt cho các nhà nghiên cứu Việt Nam trên con đường tìm hiểu những tư tưởng lớn của thế giới.
Lời Nhà xuất bản
Lời giới thiệu
Lời cảm ơn của người dịch
Chương 1: Lời mở đầu
Chương 2: Bàn về Tự do tư tưởng và Tự do thảo luận
Chương 3: Con người cá nhân như một thành tố của an sinh
Chương 4: Giới hạn của quyền xã hội đối với cá nhân
Chương 5: Các ứng dụng
Phụ lục: Về tác giả - tác phẩm

John Stuart Mill là triết gia và nhà hoạt động chính trị nổi tiếng ở nước Anh thế kỷ XIX. Ông sinh ngày 20 tháng 5 năm 1806 tại London. Trong cuốn Tự truyện (Autobiography, 1873) ông viết rằng sự phát triển trí tuệ của ông chịu ảnh hưởng lớn của hai người: cha ông James Mill, và vợ ông Harriet Taylor.
James Mill đã chuẩn bị cho con trai mình một chương trình giáo dục đầy đủ và đến năm 13 tuổi John Stuart Mill đã có được kiến thức tương đương với chương trình đại học toàn phần. Học vấn của ông bắt đầu bằng tiếng Hy Lạp và môn số học từ năm 3 tuổi. Năm 8 tuổi ông đã đọc toàn bộ tác phẩm của nhà viết sử Herodotus[1], các cuộc đối thoại của Plato[2] và một khối lượng lớn lịch sử. Trước năm 12 tuổi ông đã học xong môn Hình học Euclid và môn Đại số, các nhà thơ Hy Lạp và Latin cùng một số thi ca Anh. Trong năm cuối của việc học dưới sự dìu dắt của người cha, vào tuổi 13, ông dành sự chú ý cho môn Kinh tế Chính trị học. Việc học của ông được nối tiếp sau đó với sự giúp đỡ của bạn bè cha ông là John Austin[3] giảng môn Luật học; David Ricardo[4] giảng môn Kinh tế học. Ông tự hoàn tất học vấn của mình bằng việc nghiên cứu học thuyết của Jeremy Bentham[5] mà ông cảm nhận thấy như đã cho ông có được “một tín điều, một học thuyết, một triết lý... một tôn giáo” khiến ông như “trở thành một người khác.”
Từ năm 17 tuổi ông đã làm việc để tự kiếm sống ở Công ty Đông Ấn và trong nhiều năm, ông đảm trách việc quan hệ với các bang Ấn Độ. Công việc này giúp ông có được kinh nghiệm thực tế phong phú về những vấn đề cai trị. Ông tích cực tham gia vào các hoạt động chuẩn bị dư luận cho một cuộc cải cách hiến pháp. Ông cùng với cha mình và các bạn bè tập hợp thành một nhóm, được biết đến như “những người cấp tiến về triết học”, đã có đóng góp quan trọng trong các cuộc tranh luận dẫn tới các Đạo luật Cải cách ở nước Anh.[6] Ông thường viết cho các tờ báo có thiện cảm với khuynh hướng cấp tiến, thảo luận các vấn đề trí tuệ và xã hội đương thời. Ông nghiên cứu logic và khoa học, công bố chuyên khảo Hệ thống logic (System of logic, 1843). Cũng trong thời gian này ông quan tâm tới lĩnh vực kinh tế và công bố tác phẩm Các nguyên lý của kinh tế chính trị học (Principles of political economy, 1848). Ông thành hôn với bà Harriet Taylor năm 1852. Các tác phẩm quan trọng của ông được viết vào thời kỳ sau khi lập gia đình là Bàn về tự do (1859), Chính thể đại diện (Considerations on Representative Government, 1861), Chủ nghĩa công lợi (Utilitarianism, 1863), Khảo cứu triết học của Ngài William Hamilton (Examination of Sir William Hamilton’s Philosophy, 1865) v.v…
Sau khi nghỉ hưu, ông về sống trong một ngôi nhà vùng thôn dã ở Avignon thuộc miền nam nước Pháp, là nơi chôn cất vợ ông. Ông mất tại đây ngày 8 tháng 5 năm 1873.

Tấm lưới sự sống

Tác giả: #FRITJOF_CAPRA Ngày cập nhật: 17-10-2018
Cách hiểu mới về sự sống - “TẤM LƯỚI SỰ SỐNG” - có thể coi là chủ đề ở tuyến tiên phong khoa học suốt gần một thế kỉ chuyển đổi tận gốc rễ từ một khuôn mẫu cơ giới luận sang thế giới quan sinh thái: “Ngày nay sự dịch chuyển khuôn mẫu trong khoa học, ở mức sâu sắc nhất của nó, mang ý nghĩa một dịch chuyển từ vật lí học sang các khoa học sự sống...”
Với tư cách là một nhà vật lí lí thuyết, Fritjof Capra đã trải nghiệm cay đắng cuộc “động đất” của quan niệm vật lí học đầu thế kỉ 20, chứng kiến bao nhiêu cuộc “thăng trầm” đầy kịch tính của rất nhiều trường phái khoa học và triết học, mà tác giả nhận thức như hàng loạt cuộc “khủng hoảng thế giới quan”.

Tác giả đã được tiếp cận nhiều thành tựu rực rỡ của khoa học thế kỉ 20, mở ra chân trời mới cho cái gọi là “tầm nhìn tổng thể-hệ thống”: “Động lực học phi tuyến”, “Hệ phát tán tự-tổ chức”, “Động lực học mạng lưới”, v.v. cho phép tích hợp tri thức liên ngành, xây dựng “phương pháp luận khoa học mạng lưới”, trong đó có “TẤM LƯỚI SỰ SỐNG”.

Khuôn mẫu tư duy phương Tây, vốn ảnh hưởng sâu sắc vào tri thức nhân loại nhiều thế kỉ trước đây, bao gồm rất nhiều ý tưởng và giá trị bảo thủ kiên cố, trong số chúng có thể kể ra: Quan niệm vũ trụ như hệ thống các cỗ máy khổng lồ chứa các khối xây dựng cơ bản; Quan niệm cơ thể con người cũng như cỗ máy; Quan niệm cuộc sống trong xã hội như là một cuộc đấu tranh sinh tồn; Niềm tin vào sự tiến bộ vật chất vô hạn định sẽ đạt được thông qua tăng trưởng kinh tế và công nghệ; Và cuối cùng, nhưng không phải là ít nhất, niềm tin rằng một xã hội trong đó nữ giới luôn luôn xếp bậc thấp hơn nam giới chính là một xã hội phù hợp quy luật tự nhiên. Tất cả các điều ngộ nhận ấy đã bị các sự kiện gần đây đặt trước những thách thức trầm trọng. Và quả thực việc xem xét lại chúng tận gốc rễ hiện đang diễn ra.
Việc mô tả bối cảnh tích hợp ngày càng cao, càng sâu của các khoa học liên ngành đã trở thành chủ đề mà tác giả Fritjof Capra đeo đuổi suốt nhiều chục năm ròng, không chỉ như một học giả uyên bác-liên ngành, mà còn như một nhà tư tưởng-cách tân đầy nhiệt huyết.

Nguyên bản tiếng Anh của cuốn sách này lần đầu ra mắt năm 1996, đã luôn thu hút được sự chú ý của người đọc rộng rãi hầu khắp thế giới, ở hầu khắp các lĩnh vực tri thức, và hai mươi năm qua cuốn sách càng tỏ rõ sức truyền cảm hứng với nhiều điều “tiên tri” đang dần dần trở thành hiện thực.
Cuốn sách này chia sẻ tầm nhìn mạng lưới đang đột sinh đầy triển vọng mà tác giả đã và đang tận tình truyền đạt.

Mục lục

Lời cảm ơn của tác giả
Lời nói đầu
PHẦN I - BỐI CẢNH VĂN HÓA
Chương 1: Sinh thái sâu - một khuôn mẫu mới
PHẦN II - SỰ PHÁT SINH CÁCH SUY NGHĨ HỆ THỐNG

Chương 2: Từ các bộ phận đến cái toàn thể
Chương 3: Các lí thuyết hệ thống
Chương 4: Logic của tư duy

PHẦN III - NHỮNG CÁI PHỨC HỢP
Chương 5: Những mô hình của sự tự-tổ chức
Chương 6: Toán học của sự phức hợp
PHẦN 4 - BẢN CHẤT CỦA SỰ SỐNG
Chương 7: Một sự tổng hợp mới
Chương 8: Các cấu trúc phát tán
Chương 9: Tự chế tạo chính mình
Chương 10: Nảy nở sự sống
Chương 11: Phục dựng cả một thế giới
Chương 12: Biết rằng ta biết
Lời kết: Học hỏi sinh thái
Phụ lục: Gặp lại Bateson
Tài liệu tham khảo
Bảng chỉ mục

Điểm nhấn

Bản chất chu trình quay vòng của các quá trình sinh thái là một nguyên lí quan trọng của sinh thái. Các vòng phản hồi của quần thể sinh thái là những con đường mà theo đó nguồn nuôi dưỡng luôn được quay vòng. Là các hệ mở mọi cơ thể trong quần thể sinh thái sản sinh ra rác, nhưng cái là rác đối với loài này lại là nguồn sống của loài khác, sao cho toàn bộ hệ sinh thái luôn không có rác. Các quần thể sinh vật đã tiến hóa theo cách ấy suốt hàng tỉ năm, liên tục sử dụng và quay vòng cùng những phân tử khoáng, nước và không khí như nhau.
Bài học cho cộng đồng người ở đây là quá rõ ràng. Một mâu thuẫn chủ yếu giữa kinh tế và sinh thái bắt nguồn từ việc tự nhiên thì quay vòng, trong khi các nền công nghiệp của chúng ta lại tuyến tính, thẳng đuột. Các doanh nghiệp của chúng ta khai thác tài nguyên, biến chúng thành sản phẩm cộng với rác thải, và bán sản phẩm cho khách hàng, những người sẽ thải ra rác nhiều hơn nữa trong khi sử dụng. Các kiểu thức sản xuất và tiêu dùng bền vững cần phải là quay vòng, bắt chước các quá trình quay vòng trong tự nhiên. Để đạt được kiểu thức quay vòng như thế chúng ta phải thiết kế lại một cách căn bản các doanh nghiệp và nền kinh tế của chúng ta.
(Trích Lời kết: Học hỏi sinh thái, "Tấm lưới của sự sống", Frijot Capra, Nguyễn Nguyên Hy dịch, NXBTT 2017)