sách hay mới nhất!

Sách của nhà phát hành: #Nhà_Xuất_Bản_Tri_Thức

Phân loại sách

Good news! chính thức liên kết với mạng xã hội mọt sách, cộng đồng review và chia sẻ sách http://obook.co/

chi tiết >>

Tấm lưới sự sống

Tác giả: #FRITJOF_CAPRA Ngày cập nhật: 24-07-2018
Cách hiểu mới về sự sống - “TẤM LƯỚI SỰ SỐNG” - có thể coi là chủ đề ở tuyến tiên phong khoa học suốt gần một thế kỉ chuyển đổi tận gốc rễ từ một khuôn mẫu cơ giới luận sang thế giới quan sinh thái: “Ngày nay sự dịch chuyển khuôn mẫu trong khoa học, ở mức sâu sắc nhất của nó, mang ý nghĩa một dịch chuyển từ vật lí học sang các khoa học sự sống...”
Với tư cách là một nhà vật lí lí thuyết, Fritjof Capra đã trải nghiệm cay đắng cuộc “động đất” của quan niệm vật lí học đầu thế kỉ 20, chứng kiến bao nhiêu cuộc “thăng trầm” đầy kịch tính của rất nhiều trường phái khoa học và triết học, mà tác giả nhận thức như hàng loạt cuộc “khủng hoảng thế giới quan”.

Tác giả đã được tiếp cận nhiều thành tựu rực rỡ của khoa học thế kỉ 20, mở ra chân trời mới cho cái gọi là “tầm nhìn tổng thể-hệ thống”: “Động lực học phi tuyến”, “Hệ phát tán tự-tổ chức”, “Động lực học mạng lưới”, v.v. cho phép tích hợp tri thức liên ngành, xây dựng “phương pháp luận khoa học mạng lưới”, trong đó có “TẤM LƯỚI SỰ SỐNG”.

Khuôn mẫu tư duy phương Tây, vốn ảnh hưởng sâu sắc vào tri thức nhân loại nhiều thế kỉ trước đây, bao gồm rất nhiều ý tưởng và giá trị bảo thủ kiên cố, trong số chúng có thể kể ra: Quan niệm vũ trụ như hệ thống các cỗ máy khổng lồ chứa các khối xây dựng cơ bản; Quan niệm cơ thể con người cũng như cỗ máy; Quan niệm cuộc sống trong xã hội như là một cuộc đấu tranh sinh tồn; Niềm tin vào sự tiến bộ vật chất vô hạn định sẽ đạt được thông qua tăng trưởng kinh tế và công nghệ; Và cuối cùng, nhưng không phải là ít nhất, niềm tin rằng một xã hội trong đó nữ giới luôn luôn xếp bậc thấp hơn nam giới chính là một xã hội phù hợp quy luật tự nhiên. Tất cả các điều ngộ nhận ấy đã bị các sự kiện gần đây đặt trước những thách thức trầm trọng. Và quả thực việc xem xét lại chúng tận gốc rễ hiện đang diễn ra.
Việc mô tả bối cảnh tích hợp ngày càng cao, càng sâu của các khoa học liên ngành đã trở thành chủ đề mà tác giả Fritjof Capra đeo đuổi suốt nhiều chục năm ròng, không chỉ như một học giả uyên bác-liên ngành, mà còn như một nhà tư tưởng-cách tân đầy nhiệt huyết.

Nguyên bản tiếng Anh của cuốn sách này lần đầu ra mắt năm 1996, đã luôn thu hút được sự chú ý của người đọc rộng rãi hầu khắp thế giới, ở hầu khắp các lĩnh vực tri thức, và hai mươi năm qua cuốn sách càng tỏ rõ sức truyền cảm hứng với nhiều điều “tiên tri” đang dần dần trở thành hiện thực.
Cuốn sách này chia sẻ tầm nhìn mạng lưới đang đột sinh đầy triển vọng mà tác giả đã và đang tận tình truyền đạt.

Mục lục

Lời cảm ơn của tác giả
Lời nói đầu
PHẦN I - BỐI CẢNH VĂN HÓA
Chương 1: Sinh thái sâu - một khuôn mẫu mới
PHẦN II - SỰ PHÁT SINH CÁCH SUY NGHĨ HỆ THỐNG

Chương 2: Từ các bộ phận đến cái toàn thể
Chương 3: Các lí thuyết hệ thống
Chương 4: Logic của tư duy

PHẦN III - NHỮNG CÁI PHỨC HỢP
Chương 5: Những mô hình của sự tự-tổ chức
Chương 6: Toán học của sự phức hợp
PHẦN 4 - BẢN CHẤT CỦA SỰ SỐNG
Chương 7: Một sự tổng hợp mới
Chương 8: Các cấu trúc phát tán
Chương 9: Tự chế tạo chính mình
Chương 10: Nảy nở sự sống
Chương 11: Phục dựng cả một thế giới
Chương 12: Biết rằng ta biết
Lời kết: Học hỏi sinh thái
Phụ lục: Gặp lại Bateson
Tài liệu tham khảo
Bảng chỉ mục

Điểm nhấn

Bản chất chu trình quay vòng của các quá trình sinh thái là một nguyên lí quan trọng của sinh thái. Các vòng phản hồi của quần thể sinh thái là những con đường mà theo đó nguồn nuôi dưỡng luôn được quay vòng. Là các hệ mở mọi cơ thể trong quần thể sinh thái sản sinh ra rác, nhưng cái là rác đối với loài này lại là nguồn sống của loài khác, sao cho toàn bộ hệ sinh thái luôn không có rác. Các quần thể sinh vật đã tiến hóa theo cách ấy suốt hàng tỉ năm, liên tục sử dụng và quay vòng cùng những phân tử khoáng, nước và không khí như nhau.
Bài học cho cộng đồng người ở đây là quá rõ ràng. Một mâu thuẫn chủ yếu giữa kinh tế và sinh thái bắt nguồn từ việc tự nhiên thì quay vòng, trong khi các nền công nghiệp của chúng ta lại tuyến tính, thẳng đuột. Các doanh nghiệp của chúng ta khai thác tài nguyên, biến chúng thành sản phẩm cộng với rác thải, và bán sản phẩm cho khách hàng, những người sẽ thải ra rác nhiều hơn nữa trong khi sử dụng. Các kiểu thức sản xuất và tiêu dùng bền vững cần phải là quay vòng, bắt chước các quá trình quay vòng trong tự nhiên. Để đạt được kiểu thức quay vòng như thế chúng ta phải thiết kế lại một cách căn bản các doanh nghiệp và nền kinh tế của chúng ta.
(Trích Lời kết: Học hỏi sinh thái, "Tấm lưới của sự sống", Frijot Capra, Nguyễn Nguyên Hy dịch, NXBTT 2017)

Cuộc cách mạng ngược trong khoa học

Tác giả: #F._A._Hayek Ngày cập nhật: 24-07-2018
Cuộc cách mạng ngược trong khoa học là tác phẩm Hayek trình bày đầy đủ nhất quan điểm của ông về hệ thống phương pháp luận trong lĩnh vực khoa học xã hội. Cuốn sách gồm ba phần, tương đương với ba bài luận được ông đăng trên chuyên san Economica trong giai đoạn 1941-1944. Phần đầu đưa ra những khác biệt nền tảng về đối tượng và phương pháp nghiên cứu giữa lĩnh vực khoa học xã hội và lĩnh vực khoa học tự nhiên, và lí giải tại sao việc áp dụng một cách mù quáng phương pháp nghiên cứu của lĩnh vực sau vào lĩnh vực đầu - thái độ mà ông gọi là chủ nghĩa duy khoa học (scientism) - lại dẫn đến sai lầm. Phần hai là một nghiên cứu về lịch sử tư tưởng của chủ nghĩa duy khoa học. Hayek chỉ ra rằng cái nôi của sự ngạo mạn duy khoa học là Trường Đại học Bách khoa Paris; Saint-Simon là người ươm mầm các ý tưởng của chủ nghĩa này; Auguste Comte và những người theo chủ nghĩa Saint-Simon là những người phát triển và truyền bá tư tưởng. Phần ba của cuốn sách là một nghiên cứu so sánh tư tưởng của hai triết gia thế kỉ XIX, Georg Wilhelm Friedrich Hegel, người Đức, và Auguste Comte, người Pháp. Ông cho rằng, mặc dù hai triết gia này rất khác nhau trên phương diện triết học cũng như tuổi đời, họ lại cùng chia sẻ những quan niệm cơ bản của chủ nghĩa duy khoa học, và đó là nguyên nhân khiến cho triết lí về nhà nước toàn trị của họ tương tự.
Lời giới thiệu
Lời tựa ấn bản tiếng Anh (1952)
Phần I: CHỦ NGHĨA DUY KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU VỀ XÃ HỘI
1. Ảnh hưởng của lĩnh vực khoa học tự nhiên đối với lĩnh vực khoa học xã hội 2. Vấn đề và phương pháp nghiên cứu của lĩnh vực khoa học tự nhiên 3. Đặc tính chủ quan của dữ liệu trong các ngành khoa học xã hội
4. Phương pháp theo cá thể luận và “compozit” trong lĩnh vực khoa học xã hội 5. Khách quan luận trong chủ nghĩa duy khoa học
6. Tập thể luận trong chủ nghĩa duy khoa học
7. Duy sử luận trong chủ nghĩa duy khoa học
8. Các hệ thống tổ chức xã hội “hướng đích”
9. Định hướng “có ý thức” và sự phát triển của lí tính
10. Kĩ sư và nhà hoạch định
Phần II: CUỘC CÁCH MẠNG NGƯỢC TRONG KHOA HỌC
11. Khởi nguồn của sự ngạo mạn duy khoa học: trường Đại học Bách khoa Paris
12. Người gieo mầm ý tưởng: Henri De Saint-Simon
13. Vật lí xã hội: Saint-Simon và Comte
14. Tôn giáo của giới kĩ sư: Enfantin và những người theo chủ nghĩa Saint-Simon
15. Ảnh hưởng của chủ nghĩa Saint-Simon
16. Xã hội học: Comte và các môn đồ
PHẦN III: COMTE VÀ HEGEL
17. Comte và Hegel
Thực ra, việc dùng lí luận để thuyết phục lí tính con người hiểu được những giới hạn của chính nó là một nhiệm vụ cực kì khó khăn, nhưng lại rất có ý nghĩa. Một nhân tố cần thiết cho sự phát triển của lí tính là chúng ta, như là những cá nhân, nên chịu khuất phục trước những thế lực và tuân theo những nguyên lí mà chúng ta không hi vọng có thể hiểu được đầy đủ, huống hồ chúng lại là cơ sở cho sự tiến bộ, và thậm chí, sự bảo tồn cho nền văn minh con người. Về mặt lịch sử, điều này đạt được thông qua ảnh hưởng của nhiều tín ngưỡng tôn giáo khác nhau và thông qua phong tục truyền thống cùng sự mê tín; những thứ này khiến con người chịu quy phục trước những thế lực không thể giải thích kia không phải vì chúng đánh vào lí tính mà là vào xúc cảm của con người. Giai đoạn nguy hiểm nhất trong sự phát triển của nền văn minh nhân loại rất có thể là giai đoạn mà tại đó con người coi tất cả những niềm tin này là mê tín, và từ chối chấp nhận hay quy phục bất cứ điều gì anh ta không hiểu được bằng lí tính. Vì thế, người theo chủ nghĩa duy lí, người mà lí tính của anh ta không đủ hoàn thiện để chỉ bảo cho anh ta thấy đâu là những giới hạn của sức mạnh của lí tính có ý thức, người coi thường tất cả những thể chế và phong tục không được hình thành theo chủ ý, sẽ trở thành kẻ phá hủy nền văn minh được xây dựng dựa trên những thể chế và tập tục đó.
(Trích 9. Định hướng “có ý thức” và sự phát triển của lí tính, Cuộc cách mạng ngược trong khoa học, Nhà xuất bản Tri Thức 2017)
FRIEDRICH AUGUST HAYEK (08/05/1899-23/03/1992), Tiến sĩ luật, Tiến sĩ khoa học (Vienna), Tiến sĩ khoa học (Econ) (London), Giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Salzburg, Áo, 1970-1974. Học tại Đại học Vienna, là Giám đốc Viện Nghiên cứu Kinh tế Áo, 1927-1931, và là Giảng viên Kinh tế học tại Đại học Vienna, 1929-1931. Giáo sư Tooke về Khoa học Kinh tế và Thống kê tại Đại học London 1931-1950. Giáo sư Khoa học Xã hội và Đạo đức, Đại học Chicago, 1950-1962. Giáo sư Kinh tế, Đại học Freiburg i.Brg., Tây Đức, 1962-1968. Ông được trao giải thưởng Nobel kinh tế năm 1974. Các công trình quan trọng nhất của Giáo sư Hayek bao gồm Monetary Theory and the Trade Cycle (1933), The Pure Theory of Capital (1941), The Road to Serfdom (1944), Individualism and Economic Order (1948), The Counter-Revolution of Science (1952), và The Constitution of Liberty (1960). Các tác phẩm cuối cùng của ông là tập hợp các bài viết dưới nhan đề Studies in Philosophy, Politics and Economics (1967), Law, Legislation and Liberty (Vol. I, 1973; Vol. ll, 1976; Vol. Ill, 1979), và The Fatal Conceit: The Errors of Socialism (1990). Ông cũng biên tập một vài cuốn sách và đã công bố một số bài báo trên Economic Journal, Economica và các tạp chí khác

Tấm Lưới Sự Sống

Tác giả: #Fritjof_Capra Ngày cập nhật: 24-07-2018

Tấm Lưới Sự Sống

Có thể coi đây là chủ đề ở tuyến tiên phong khoa học suốt gần một thế kỉ chuyển đổi tận gốc rễ từ một khuôn mẫu cơ giới luận sang thế giới quan sinh thái: “Ngày nay sự dịch chuyển khuôn mẫu trong khoa học, ở mức sâu sắc nhất của nó, mang ý nghĩa một dịch chuyển từ vật lí học sang các khoa học sự sống...”

Với tư cách là một nhà vật lí lí thuyết, Fritjof Capra đã trải nghiệm cay đắng cuộc “động đất” của quan niệm vật lí học đầu thế kỉ 20, chứng kiến bao nhiêu cuộc “thăng trầm” đầy kịch tính của rất nhiều trường phái khoa học và triết học, mà tác giả nhận thức như hàng loạt cuộc “khủng hoảng thế giới quan”.

Tác giả đã được tiếp cận nhiều thành tựu rực rỡ của khoa học thế kỉ 20, mở ra chân trời mới cho cái gọi là “tầm nhìn tổng thể-hệ thống”: “Động lực học phi tuyến”, “Hệ phát tán tự-tổ chức”, “Động lực học mạng lưới”, v.v. cho phép tích hợp tri thức liên ngành, xây dựng “phương pháp luận khoa học mạng lưới”, trong đó có Tấm Lưới Sự Sống

Khuôn mẫu tư duy phương Tây, vốn ảnh hưởng sâu sắc vào tri thức nhân loại nhiều thế kỉ trước đây, bao gồm rất nhiều ý tưởng và giá trị bảo thủ kiên cố, trong số chúng có thể kể ra: Quan niệm vũ trụ như hệ thống các cỗ máy khổng lồ chứa các khối xây dựng cơ bản; Quan niệm cơ thể con người cũng như cỗ máy.

Quan niệm cuộc sống trong xã hội như là một cuộc đấu tranh sinh tồn; Niềm tin vào sự tiến bộ vật chất vô hạn định sẽ đạt được thông qua tăng trưởng kinh tế và công nghệ; Và cuối cùng, nhưng không phải là ít nhất, niềm tin rằng một xã hội trong đó nữ giới luôn luôn xếp bậc thấp hơn nam giới chính là một xã hội phù hợp quy luật tự nhiên. Tất cả các điều ngộ nhận ấy đã bị các sự kiện gần đây đặt trước những thách thức trầm trọng. Và quả thực việc xem xét lại chúng tận gốc rễ hiện đang diễn ra.

Việc mô tả bối cảnh tích hợp ngày càng cao, càng sâu của các khoa học liên ngành đã trở thành chủ đề mà tác giả Fritjof Capra đeo đuổi suốt nhiều chục năm ròng, không chỉ như một học giả uyên bác-liên ngành, mà còn như một nhà tư tưởng-cách tân đầy nhiệt huyết. Nguyên bản tiếng Anh của cuốn sách này lần đầu ra mắt năm 1996, đã luôn thu hút được sự chú ý của người đọc rộng rãi hầu khắp thế giới, ở hầu khắp các lĩnh vực tri thức, và hai mươi năm qua cuốn sách càng tỏ rõ sức truyền cảm hứng với nhiều điều “tiên tri” đang dần dần trở thành hiện thực.

Cuốn sách này chia sẻ tầm nhìn mạng lưới đang đột sinh đầy triển vọng mà tác giả đã và đang tận tình truyền đạt.

Thăm dò tiềm thức

Tác giả: #Carl_Gustav_Jung Ngày cập nhật: 24-07-2018
Thăm dò tiềm thức là một trong những văn bản diễn đạt tư tưởng Jung sáng sủa nhất, giản dị nhất và tổng hợp nhất. Nó còn làm ta xúc động khi biết rằng đó chính là văn bản cuối cùng của cả một công trình quy mô to lớn trải dài gần sáu chục năm và vượt quá con số một trăm năm mươi “đầu sách” lớn nhỏ với tầm quan trọng dẫu sao thì cũng không sàn sàn như nhau. Cuốn sách này được Jung hoàn thành mười ngày trước khi ngã bệnh, rồi tiếp đó là cuộc ra đi mãi mãi hồi tháng Sáu năm 1961 của nhà tư tưởng tiếng tăm này.
Thoát khỏi ảnh hưởng của Freud bằng cách thừa nhận các lực tinh thần phi tình dục dẫn dắt libido (dục tính), Carl Jung đã khiến người ta phải nhớ tới ông bên cạnh cái tên vĩ đại của Freud. Thăm dò tiềm thức là một bước nhảy phi thường khỏi sự câu thúc độc đoán của Freud, khám phá những khía cạnh hoang đường ở những chi tiết tế nhị nhất trong đời sống nội tâm của chúng ta. Không chỉ tập trung vào bệnh học tâm thần và các dấu hiệu của nó, nhà phân tích tâm lý người Thuỵ Sĩ này còn nghiên cứu cả những giấc mơ và thế giới biểu tượng của nó, thần thoại và những cổ mẫu (archétype) để xác định những “gen” tinh thần của con người.
Đôi khi ông phải đánh đổi cách trình bày dễ hiểu cho cách thức sâu sắc hơn (đương nhiên là phức tạp và khó hiểu hơn), nhưng điều đó cũng khó làm nản lòng người đọc (kể cả những độc giả thông thường). Jung cho rằng libido (năng lượng của cái vô thức) vượt cao hơn sex (tình dục). Không bao giờ phủ nhận cách nhìn nhận sáng suốt có tính chất quyết định của Freud về lịch sử và những tưởng tượng tình dục, Jung đi ra ngoài những vấn đề đó và kể cho chúng ta một câu chuyện thần thoại có tính chất dự báo: cái libido trở thành một người hùng, trốn khỏi sự giam cầm, thực hiện những chuyến phiêu lưu kỳ thú trong thế giới, nhưng luôn trở về với cội nguồn sức mạnh của nó – cái Vô thức – trong những giấc mơ và trí tưởng tượng.
Với Jung, “sự hiểu biết ngày nay về cái tiềm thức chứng minh rằng đó là một hiện tượng tự nhiên và cũng như thiên nhiên, ít ra nó có tính chất trung lập. Nó chứa đựng tất cả các khía cạnh của bản chất nhân loại, ánh sáng và bóng tối, vẻ đẹp và vẻ xấu, thiện tính và ác tính, sâu sắc và ngu muội. Sự nghiên cứu biểu tượng cá nhân cũng như biểu tượng tập thể là một công việc to tát và khó khăn, người ta chưa nắm vững được manh mối. Nhưng dầu sao người ta cũng bắt đầu nghiên cứu. Những kết quả đầu tiên thật đáng khích lệ, hình như chúng báo trước rằng sẽ mang lại nhiều lời giải đáp vẫn được mong đợi cho nhiều vấn đề đặt ra với nhân loại ngày nay”.
Carl Gustav Jung chào đời ở Kesswill, trên bờ hồ Constance phía Thuỵ Sĩ. Cha ông là một mục sư Tin lành, bởi vậy đã có ảnh hưởng tinh thần đến tác phẩm của ông. Họ đến ở gần Schloss-Laufen, bên bờ thác nước sông Rhin, rồi ở gần Bâle, thành phố nơi chàng thanh niên Carl Gustav học tập và nhận chức vị thầy thuốc. Jung tự đặt ra cho mình, ngay từ những năm đầu, câu hỏi kép vốn chế ngự cuộc sống của ông: “Thế giới là gì và ta là ai?”và, mặc dù sự tò mò mãnh liệt đưa ông về phía hiện thực bên ngoài, nhưng ông dự đoán rằng câu trả lời nằm ở bên trong ông chứ không phải bên ngoài. Đối với ông, Thiên Chúa giáo và khái niệm về một Thượng đế toàn ái không đủ để giải đáp thoả đáng những vấn đề ấy. Tâm thần học có vẻ như đã tặng ông một phương tiện để tiếp cận tổng thể con người. Để cho những nghiên cứu của mình được trọn vẹn, ông vào Burghölzli, bệnh viện tâm thần của tổng Zurich, nơi ông là học trò của Eugen Bleuler. Sau khi bảo vệ luận án về “bệnh học tâm thần của những hiện tượng được gọi là bí ẩn” (1902), ông chuẩn bị cho việc xuất bản đầu tiên: nghiên cứu về liên tưởng (1903) và sự sa sút trí tuệ sớm (1907). Jung nỗ lực vượt qua thái độ chỉ thuần tuý mô tả căn bệnh tinh thần và cố gắng hiểu nội tâm.
Những công trình của Freud khiến ông chú ý, ông gắn bó với tác giả của cuốn Giải mộnglibido) giới hạn cho nhu cầu của một học thuyết ở xung năng tình dục. Ông cũng ngờ vực thuyết của Freud về môn cận tâm lý học (parapsychologie) và khoa thần thoại học so sánh (mythologio comparée), thế rồi sự rạn vỡ giữa hai con người trở nên không thể tránh khỏi sau khi cuốn Những biến thái và biểu tượng của libido (1912) được xuất bản. Cũng chính trong thời kỳ này, Jung đến ở Küsnacht, gần Zurich, bên bờ hồ, nơi ông hành nghề cho đến lúc mất, rời bỏ chức vị Privatdozent ở đại học Zurich. Chỉ từ đó trở đi và trong việc nghiên cứu theo một định hướng, ông mới cảm thấy rằng, để khám phá thế giới bên ngoài, ông cần phải đương đầu với thế giới tăm tối trong chính bản thân mình. bằng một tinh thần nhiệt thành kéo dài bảy năm, đến nỗi Freud muốn chọn ông làm người kế nghiệp. Nhưng hệ tư tưởng của bậc đàn anh càng ngày càng xa cách ông: Jung không thể chấp nhận một quan niệm về năng lực tâm thần.
I - Sự quan trọng của giấc mơ
II - Quá khứ và tương lai trong tiềm thức
III - Cơ năng của giấc mơ
IV - Phân tích giấc mơ
V - Vấn đề chia loại người về phương diện tâm lý học
VI - Nói về siêu tượng (Archetype) trong biểu tượng giấc mơ
VII - Linh hồn loài người
VIII - Vai trò của biểu tượng
IX - Lập lại mối liên hệ giữa tiềm thức và ý thức
Bốn học thuyết truyền thông đã xác định các loại hình mà báo chí thế giới phương Tây có: Thuyết Độc đoán hình thành từ các thế kỉ mà chế độ độc tài về chính trị cầm quyền từ thời Plato đến Machiavelli; Thuyết Tự do hình thành từ thời Milton, Locke, Mill và thời kì Phục hưng; Thuyết Trách nhiệm Xã hội hình thành từ thời kì cải cách truyền thông và trong những nghi ngờ của triết lí thời kì Phục hưng; và Thuyết Toàn trị Xô viết hình thành trong thời kì Marx, Lenin, Stalin và Đảng Cộng sản Liên Xô.
Mỗi chương trong bốn chương sẽ giới thiệu về tác phẩm, phong cách và ý kiến của các tác giả. Nhóm tác giả không áp đặt bất kì một quan điểm nào lên các vấn đề được bàn luận trong những chương tiếp theo, dù có đề cập tới những kết luận của mình.
“Để nhìn nhận sự khác biệt của hệ thống truyền thông giữa các nước một cách toàn diện nhất, phải nhìn vào hệ thống xã hội mà chúng đang hoạt động. Để xem xét hệ thống xã hội trong mối quan hệ với báo chí, phải xem xét những niềm tin và quan niệm cơ bản của xã hội đó: đặc tính của con người, xã hội, đất nước, mối quan hệ giữa con người và đất nước đó, của tri thức và sự thật. Vì thế, những khác biệt của các hệ thống truyền thông là sự khác biệt của các hệ thống học thuyết, và cuốn sách này viết về những học thuyết và triết lí chính trị đằng sau các loại hình truyền thông ngày nay.”…

(trích Lời mở đầu, Bốn học thuyết truyền thông, Fred S. Siebert, Theodore Peterson, Wilbur Schramm, Lê Ngọc Sơn dịch, NXB Tri thức, 2013).
Lời nhà xuất bản
Vài lời gợi mở
Lời mở đầu
1 Thuyết Độc đoán
2 Thuyết Tự do
3 Thuyết Trách nhiệm Xã hội
4 Thuyết Toàn trị Xô viết
Tài liệu tham khảo
Fred S. Siebert nguyên là chủ nhiệm khoa Truyền thông, Đại học Michigan và là tác giả cuốn Tự do báo chí ở nước Anh (Freedom of the Press in England, 1476 – 1776).
Theodore Peterson là giáo sư danh dự của Đại học lllinois, nơi ông từng là chủ nhiệm khoa Truyền thông; đồng thời ông là tác giả cuốn Tạp chí Thế kỷ Hai mươi (Magazines in the Twentieth Century).
Wilbur Schramm là Hiệu trưởng trường Báo chí, người đầu tiên thiết kế chương trình đào tạo tiến sĩ ngành truyền thông đại chúng ở Mỹ; ông sáng lập Viện Nghiên cứu Truyền thông của Đại học lllinois, cũng là nhà sáng lập Viện nghiên cứu Truyền thông của Đại học Stanford, Giám đốc Cơ quan Truyền thông Tây – Đông, Trung tâm Tây – Đông (Honolulu).

Những Thế Giới Song Song

Tác giả: #Phùng_Ngọc_Kiên Ngày cập nhật: 24-07-2018
Bản dịch văn chương, và cùng với nó là hành vi dịch, có tính không thuần chất trong hệ thống văn chương bản địa. Nó là một kẻ xa lạ, và vì thế có tính lai ghép (hybridité). Tính khác (altérité) và sự lai ghép gợi ý rằng sự có mặt của nó trong văn chương bản địa gắn với những khoảng trống luôn tiềm tàng ở mọi hệ thống. Bởi thế việc xem xét chúng mang đến cơ hội đặc biệt thú vị để đánh giá những lời đáp lại với những câu hỏi được hệ thống bản địa nêu ra. […] Cho nên với một người dịch cũng như với một nhà văn, viết văn chẳng phải là cái gì khác ngoài việc phá vỡ chính những quy tắc của mình và xã hội từng thiết lập để tạo ra thành công, cũng đồng thời có thể là những quy tắc và giới hạn mới. Nếu “viết là tìm thấy một quy tắc trên cơ sở đánh một quy tắc” của mình và người, dịch là để xâm phạm, phá vỡ những chuẩn mực hoặc điển phạm đã có nhằm tạo nên cái mới cho ta và về kẻ khác.
Một bản dịch không bao giờ có thể một lúc truyền tải kiệt cùng ý nghĩa của một bản văn, cũng như một bài phê bình chẳng bao giờ “đọc hết” một tác phẩm. Cho nên, ta buộc phải chấp nhận một thực tế rằng không bao giờ có một diễn dịch trọn vẹn về một sự thật duy nhất hay một ý nghĩa được phát lộ đối với một bí ẩn tối cao được hàm ý là thuộc về tác giả. Bởi vì ý nghĩa tiềm năng của một tác phẩm luôn là một sự tổ hợp của những cách diễn dịch hay diễn giải do người đọc nêu lên trong những hoàn cảnh cụ thể. […] Giả thiết về hành động đọc được viết lại của việc dịch văn chương, diễn dịch một tác phẩm dứt khoát không phải là duy nhất và có tính tiên nghiệm (à priori), mà đa chiều và có tính hậu nghiệm (postériori). Vì mỗi bản dịch không thể truyền tải tức thì mọi ý nghĩa có thể của bản gốc, nên việc dịch lại trở thành đương nhiên đến mức nó sẽ góp phần mang đến những sắc thái khác nhau. Việc dịch lại làm việc đọc và ngôn ngữ trở nên tươi mới (W. Benjamin), việc dịch lại kích thích nhu cầu đọc lại như một cách tái diễn giải những tác phẩm kinh điển (Calvino), dịch lại như một cách làm giàu cho chính bản gốc và di sản nhờ vào định đề dịch đa chiều. Và chính bởi thế mà đời sống tác phẩm gốc trở nên dài hơn (P. Valéry).

Mục lục
BIỂU KIẾN KINH NGHIỆM THẨM Mĩ
Thách thức và cơ hội
Tái diễn giải trong hành vi dịch
Kinh nghiệm thẩm mĩ
Thêm vài lưu ý
Về Flaubert ở Việt Nam
KHÔNG GIAN BẤT KHẢ XÂM PHẠM?
Những thế giới khác chiều
Tính bất cân xứng về giá trị
Charles
Emma
những THẾ GIỚI HƯ CẤU BIẾN DẠNG!
... Theo hình dung của người-dịch-đọc
... Theo cách viết lại của người-dịch-viết
... Về Charles
... Về Emma
Câu chuyện thị trường
NƠI CÒN LỜI KẺ KHÁC...
Bình xét tự do
Bằng sự thác lời
Bằng việc mượn ý
Kể cho ai?
Người quen!
Kẻ lạ?!
NHỮNG THẾ GIỚI SONG SONG
LỜI CUỐI SÁCH
ChỈ MỤC tên riêng và thuật ngữ
Mục lục

BIỂU KIẾN KINH NGHIỆM THẨM Mĩ

Thách thức và cơ hội

Tái diễn giải trong hành vi dịch

Kinh nghiệm thẩm mĩ

Thêm vài lưu ý

Về Flaubert ở Việt Nam

KHÔNG GIAN BẤT KHẢ XÂM PHẠM?

Những thế giới khác chiều

Tính bất cân xứng về giá trị

Charles

Emma

những THẾ GIỚI HƯ CẤU BIẾN DẠNG!

... Theo hình dung của người-dịch-đọc

... Theo cách viết lại của người-dịch-viết

... Về Charles

... Về Emma

Câu chuyện thị trường

NƠI CÒN LỜI KẺ KHÁC...

Bình xét tự do

Bằng sự thác lời

Bằng việc mượn ý

Kể cho ai?

Người quen!

Kẻ lạ?!

NHỮNG THẾ GIỚI SONG SONG

LỜI CUỐI SÁCH

ChỈ MỤC tên riêng và thuật ngữ Mục lục

BIỂU KIẾN KINH NGHIỆM THẨM Mĩ

Thách thức và cơ hội

Tái diễn giải trong hành vi dịch

Kinh nghiệm thẩm mĩ

Thêm vài lưu ý

Về Flaubert ở Việt Nam

KHÔNG GIAN BẤT KHẢ XÂM PHẠM?

Những thế giới khác chiều

Tính bất cân xứng về giá trị

Charles

Emma

những THẾ GIỚI HƯ CẤU BIẾN DẠNG!

... Theo hình dung của người-dịch-đọc

... Theo cách viết lại của người-dịch-viết

... Về Charles

... Về Emma

Câu chuyện thị trường

NƠI CÒN LỜI KẺ KHÁC...

Bình xét tự do

Bằng sự thác lời

Bằng việc mượn ý

Kể cho ai?

Người quen!

Kẻ lạ?!

NHỮNG THẾ GIỚI SONG SONG

LỜI CUỐI SÁCH

ChỈ MỤC tên riêng và thuật ngữ

Sự xây dựng cái thực ở trẻ

Tác giả: #Jean_Piaget Ngày cập nhật: 24-07-2018
…. Việc nghiên cứu trí khôn cảm giác-vận động hay thực hành trong vòng hai năm đầu của sự phát triển[1] đã cho chúng ta biết đứa trẻ trực tiếp đồng hóa môi trường bên ngoài vào chính hoạt động của mình như thế nào, rồi tiếp đó, để kéo dài sự đồng hóa ấy, trẻ tạo nên ngày càng nhiều cấu trúc sơ khai (CTSK) vừa linh hoạt vừa có năng lực tự điều phối lẫn nhau ra sao.
Vậy mà, song song với sự bao hàm tăng dần của các CTSK đồng hóa, ta có thể theo dõi sự tiến hóa liên tục của một vũ trụ bên ngoài, nói cách khác, sự phát triển đồng quy của chức năng giải thích [fonction explicative]. Thực vậy, mối liên hệ được xác lập giữa các CTSK đồng hóa càng nhiều lên thì sự tiến hóa càng bớt tập trung vào tính chủ quan đúng thực chất của chủ thể đồng hóa, để trở thành sự hiểu và diễn dịch đúng nghĩa. Chính như thế mà lúc khởi đầu hoạt động đồng hóa, một vật thể bất kì được môi trường bên ngoài đem đến cho hoạt động của chủ thể chỉ đơn giản là vật để mút, nhìn hay nắm giữ: vậy ở giai đoạn ấy, một sự đồng hóa như thế chỉ tập trung vào chủ thể đồng hóa. Trái lại, thời gian sau, cũng vật ấy biến đổi thành vật để dịch chuyển, để làm chuyển động và để sử dụng cho những mục đích ngày càng phức hợp. Cái cốt yếu vậy là trở thành tổng thể những mối quan hệ do hoạt động đặc thù [của chủ thể] kiến tạo nên giữa vật ấy với những vật khác: từ lúc ấy, đồng hóa có nghĩa là hiểu hay diễn dịch, và đồng hóa lẫn lộn với đặt các mối quan hệ. Bởi chính việc chủ thể đồng hóa đi vào mối quan hệ tương hỗ với các vật được đồng hóa: bàn tay cầm nắm, miệng mút, hay mắt nhìn, không chỉ hạn chế trong một hoạt động không có ý thức về bản thân nó mặc dù tập trung vào chính nó, mà chúng [bàn tay, miệng, mắt] được chủ thể quan niệm như những sự vật giữa các sự vật và như giữ những mối quan hệ tương thuộc với vũ trụ.
Dẫn nhập
Chương i: sự phát triển ý niệm vật thể
§1. Hai giai đoạn đầu: không hề có hành vi đặc biệt liên quan đến các vật biến mất
§2. Giai đoạn ba: sự khởi đầu tính thường trực kéo dài các vận động điều tiết
§3. Giai đoạn bốn: tìm kiếm tích cực vật biến mất nhưng không tính đến sự kế tiếp của những dịch chuyển nhìn thấy
§4. Giai đoạn năm: trẻ tính đến những dịch chuyển kế tiếp nhau của vật
§5. Giai đoạn sáu: sự biểu trưng các dịch chuyển không nhìn thấy được

§6. Các quá trình tạo lập ý niệm vật thể

Chương ii: trường không gian và sự kiến tạo các nhóm dịch chuyển
§1. Hai giai đoạn đầu: các nhóm thực hành và không đồng chất
§2. Giai đoạn ba: sự điều phối các nhóm thực hành và sự tạo lập các nhóm chủ quan
§3. Giai đoạn bốn: chuyển từ các nhóm chủ quan sang các nhóm khách quan và khám phá các thao tác thuận nghịch
§4. Giai đoạn năm: các nhóm “khách quan”


§5. Giai đoạn sáu: các nhóm biểu trưng


§6. Những quá trình xây dựng không gian


Chương iii
§1. Hai giai đoạn đầu tiên: bắt đầu tiếp xúc giữa hoạt động nội tâm và môi trường bên ngoài và tính nhân quả đặc thù của các ctsk cấp một


§2. Giai đoạn ba: tính nhân quả ảo tượng [magico-phénoméniste]
§3. Giai đoạn bốn: sự ngoại hiện và khách quan hóa sơ cấp của tính nhân quả
§4. Giai đoạn năm: sự khách quan hóa và không gian hóa thực của tính nhân quả
§5. Giai đoạn sáu: tính nhân quả biểu trưng và tàn dư của tính nhân quả thuộc các kiểu trước


§6. Sự ra đời tính nhân quả


Chương iv: trường thời gian


§1. Hai giai đoạn đầu tiên: thời gian đặc thù và các loạt thực hành
§2. Giai đoạn ba: các loạt chủ quan


§3. Giai đoạn bốn: bắt đầu sự khách quan hóa thời gian


§4. Giai đoạn năm: các “loạt khách quan”


§5. Giai đoạn sáu: các “loạt biểu trưng”
Kết luận: sự kiến tạo vũ trụ


§1. Đồng hóa và điều tiết


§2. Chuyển từ trí khôn cảm giác-vận động qua tư duy khái niệm
§3. Từ vũ trụ cảm giác-vận động đến biểu trưng thế giới của trẻ em
§4. Từ vũ trụ cảm giác-vận động qua biểu trưng thế giới của trẻ em
§5. Kết luận


Những thuật ngữ dùng trong ba tập sách đầu của Piaget

Jean Piaget (9/8/1896-16/9/1980): triết gia, nhà tâm lí học người Thụy Sĩ sử dụng tiếng Pháp, nổi tiếng thế giới qua sự nghiệp nghiên cứu quá trình nhận thức của trẻ em. Lí thuyết về phát triển nhận thức và quan điểm tri thức học của ông được gọi chung là “tri thức học sinh-triển” (genetic epistemology).

Ông hết sức coi trọng việc giáo dục trẻ em. Là Giám đốc Văn phòng Giáo dục Quốc tế, năm 1934 Piaget đã tuyên bố: “Chỉ có giáo dục có khả năng cứu các xã hội của chúng ta khỏi sự sụp đổ có thể xảy ra, sụp đổ dữ dội hay từng bước”.

Ông lập ra Trung tâm Tri thức học Di truyền tại Genève vào năm 1955, và lãnh đạo Trung tâm cho đến khi qua đời.

Tác phẩm Phan Khôi đọc và suy ngẫm - Tập 1

Tác giả: #Ngô_Quang_Huy Ngày cập nhật: 24-07-2018
"Tác phẩm Phan Khôi - Đọc và suy ngẫm" của tác giả Ngô Quang Huy là một bước tiến dài trên con đường nghiên cứu, tiếp thu và phát huy những giá trị văn hóa của quá khứ cho cuộc sống của chúng ta hôm nay và mai sau, mà Phan Khôi - Chương Dân chỉ là một đại diện.
Con đường đó khởi đầu bằng một sự cố của lịch sử cách đây sáu mươi năm, 1958. Tên tuổi trí thức và văn nghệ sĩ ở miền Bắc sau thời kỳ 1956-1958 bị biến mất khỏi đời sống, phải chờ đến hơn ba mươi năm, sau cái mốc 1986 - dù không hề nhận được lời xin lỗi nào mà chỉ dựa vào một động thái gọi là phục hồi theo cách rất không chính thức - cũng đã lặng lẽ xuất hiện trở lại với hình hài nhợt nhạt. Trong thời kỳ lịch sử đó, Phan Khôi là người chịu tổn thất nặng nề về nhân cách, phẩm giá và danh dự, vì cao tuổi nên qua đời ngay sau đó, nhưng rồi ông cũng đã trở lại bằng một cách rất riêng từ chính những gì ông có lúc sinh thời. Vốn dòng dõi nhà quan, nhưng đến cuối đời Phan Khôi là kẻ trắng tay, nên cái ông có lúc sinh thời chỉ duy nhất là các tác phẩm ông đã sáng tạo ra trong suốt cuộc đời cầm bút của mình. Từ năm 1992 người ta phải trả ông về lại vị trí người mở đầu phong trào Thơ mới.

Năm 1996 tái bản tác phẩm phê bình văn học đầu tiên của Việt Namlà Chương Dân thi thoại. Năm 1997 tái bản tác phẩm nghiên cứu tiếng Việt đầu tiên dưới thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Việt ngữ nghiên cứu. Càng về sau các công việc mà người đời làm về Phan Khôi càng nhiều hơn, đó là các tác phẩm viết về ông và sự nghiệp của ông, như Nhớ cha tôi - Phan Khôi của Phan Thị Mỹ Khanh (2001, 2017), Phan Khôi - Tiếng Việt, Báo chí và Thơ mới của Vu Gia (2003), sưu tập Sông Hương - Tuần báo ra ngày thứ bảy của Phạm Hồng Toàn (2009), bộ phim tài liệu Con mắt còn có đuôi của đạo diễn Huỳnh Hùng (2012) được phát nhiều lần trên các kênh truyền hình Trung ương và địa phương, Nắng được thì cứ nắng - Phan Khôi từ Sông Hương đến Nhân Văn của Phan An Sa (2013). Song hành với các công trình ấy là rất nhiều những bài báo của các tác giả trong nước, ngoài nước viết về Phan Khôi xuất hiện trên tất cả các loại hình báo chí, trên các trang web, các blog cá nhân.

Các cuộc sinh hoạt học thuật về Phan Khôi được diễn ra, như cuộc Tọa đàm kỷ niệm 120 năm ngày sinh của ông tại Hà Nội của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (2007), cuộc Hội thảo Khoa học Phan Khôi - Những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa dân tộc của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam (2014). Một số con đường ở Thành phố Đà Nẵng, Thành phố Tam Kỳ và Thị xã Điện Bàn quê hương Phan Khôi đã được mang tên ông. Và mới đây, ngày 24.3.2017 Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh bình chọn và tôn vinh Phan Khôi là DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI nhằm tưởng nhớ và tri ân một trong những danh nhân văn hóa tiêu biểu, góp phần gìn giữ và lan tỏa những giá trị tinh hoa văn hóa của dân tộc..."
(Trích Lời tựa, Tác phẩm Phan Khôi đọc và suy ngẫm (tập 1), Ngô Quang Huy, Nhà xuất bản Tri thức 2017)

Mục lục
Lời nhà xuất bản

Lời tựa
Lời đầu sách
Chương 1: Tác phẩm Phan Khôi - Đọc và suy ngẫm

I. Tôi đến với các tác phẩm của Phan Khôi
II. Phác thảo chân dung Phan Khôi
III. Bộ sưu tập Phan Khôi - Tác phẩm đăng báo
IV. Đọc và viết về Phan Khôi

V. Lời kết

Chương 2: Bài thơ Tình già - Một sáng tạo có tầm ảnh hưởng rộng lớn đến nền thi ca Việt Nam
I. Hơn mười năm tìm hiểu, đánh giá thơ cũ và thai nghén ý tưởng về thơ mới 66
II. Bài thơ Tình già, một dấu ấn kinh điển đặt nền móng cho thơ mới
III. Phan Khôi, người sáng lập ra một trong ba thể thơ của Việt Nam
IV. Kết luận
Chương 3: Cuộc tranh luận Duy tâm hay Duy vật giữa Phan Khôi và Hải Triều, nhìn lại sau tám mươi năm
I. Tóm tắt nội dung cuộc tranh luận
II. Chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật
III. Ý nghĩa của các từ vật chất và tinh thần trong tiếng Việt và trong bài báo của Phan Khôi
IV. Quan hệ giữa tri thức và sản phẩm
V. Vai trò của tri thức trong nền kinh tế hiện đại
VI. Trở lại với cuộc tranh luận Duy tâm hay Duy vật
VII. Lời kết

Chương 4: Phan Khôi với luận lý học

I. Phan Khôi tự học và áp dụng luận lý học
II. Luận lý học
III. Khái niệm và phán đoán
IV. Các quy luật cơ bản của luận lý học
V. Ba quy tắc trong phép suy luận
VI. Chứng minh, bác bỏ và ngụy biện
VII. Luận lý học và tranh luận
VIII. Kết luận
Chương 5: Phan Khôi với các quan điểm ngược chiều về lịch sử
I. Về việc bỏ Triệu Đà ra ngoài sử Việt
II. Bác cái thuyết “Nước Pháp giúp nước Nam hồi cuối thế kỷ XVIII”
III. Địa vị của Thái Phiên và Trần Cao Vân trong cuộc biến ở Huế năm 1916
IV. Về ngày quốc sỉ 23.5 âm lịch hay 5.7.1885 - kinh thành Huế thất thủ
V. Trên lịch sử nước ta không có chế độ phong kiến
VI. Xóa một cái án trong lịch sử: Thân oan cho Võ hậu
VII. Một vài sự kiện lịch sử
VIII. Quan niệm về làm sử học
IX. Kết luận

Chương 6: Phan Khôi, nhà Việt ngữ học nghiệp dư đầy tâm huyết
Phần A
Các đóng góp của Phan Khôi trong sự phát triển chữ quốc ngữ đầu thế kỷ XX
I. Tóm tắt lịch sử chữ quốc ngữ và sự phát triển của nó ở thời kỳ đầu thế kỷ XX
II. Phan Khôi đấu tranh cho sự thống nhất tiếng Việt trong cả nước
III. Phan Khôi cổ động phong trào viết đúng chữ quốc ngữ
IV. Phép làm văn và văn pháp tiếng Việt
V. Danh từ ngữ pháp và ngữ pháp tiếng Việt hiện đại
Phần B
Các công trình nghiên cứu của Phan Khôi về ngữ pháp tiếng Việt
VI. Tiền danh từ và quán từ
VII. Cách đặt động từ
VIII. Cách đặt đại danh từ
IX. Phân tích vần quốc ngữ
X. Tiếng đệm và những tiếng đệm bằng ang và ac
XI. Hư từ trong Truyện Kiều
XII. Chữ gia nghĩa giảm
XIII. Những chữ có họ với nhau
XIV. Cách dùng lời quả quyết và lời hồ nghi
XV. Dạy văn pháp tiếng Việt bằng phương pháp cú bản vị
XVI. Mấy đặc điểm trong tiếng Việt
XVII. Những con số không nhất định trong từ ngữ
XVIII. Kết luận

Tác giả
Tác giả Ngô Quang Huy quê ở làng Bảo An, vùng Gò Nổi, tỉnh Quảng Nam, là Giáo sư-Tiến sĩ ngành Vật lý, suốt năm mươi năm qua làm công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy trong chuyên ngành Vật lý hạt nhân, và là cháu ngoại của Phan Khôi.
GS-TS Ngô Quang Huy vẫn tiếp tục làm công việc nghiên cứu bằng cái vốn chuyên môn sẵn có của người cả đời làm khoa học, nhưng lần này trên một địa hạt khác là nghiên cứu văn học. Theo tôi, tác phẩm là kết quả từ sự thôi thúc tự thân của tác giả với tư cách là độc giả trước các tác phẩm của một nhà báo lớn trong lịch sử báo chí Việt Nam. Trách nhiệm và tình cảm của một người cháu ngoại cũng có, nhưng nó chỉ thôi thúc anh làm việc ngày đêm để hoàn thành tác phẩm kịp kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Khôi, chứ không bởi nội dung tác phẩm.

Sức bật cho thế hệ mới

Tác giả: #REGORY_CLARK Ngày cập nhật: 24-07-2018
Lời tác giả
CUỐN SÁCH NÀY SẼ NHẬN NHIỀU Ý KIẾN TRÁI CHIỀU.

Do đó, lời đầu tiên tôi muốn khẳng định bản thảo này là do tôi viết dù các ước tính về tỉ lệ chuyển dịch xã hội trong cuốn sách là kết quả hợp tác với rất nhiều người. Việc diễn giải các bằng chứng và lí thuyết về chuyển dịch xã hội được trình bày trong cuốn sách là ý kiến của riêng tôi. Không một ai trong những người mà tôi thấy biết ơn sâu sắc được cho là ủng hộ các kết luận của cuốn sách.

Tôi cũng muốn lưu ý bạn đọc rằng tinh thần và văn phong của cuốn sách này giống như cuốn sách trước của tôi, A Farewell to Alms: A Brief Economic History of the World. Cuốn sách muốn cho bạn đọc thấy các mô hình chuyển dịch xã hội rất đơn giản có thể dự đoán chính xác kết quả của nhiều xã hội cùng thể chế. Đây là nhận định dựa trên nhiều chứng cứ không đầy đủ. Tuy có thể sai, tôi vẫn hi vọng nhận định này sẽ dẫn tới một lí thuyết chính xác và hoàn chỉnh hơn về các cơ chế chuyển dịch xã hội. Vì ngay cả trong lĩnh vực có rất nhiều hi vọng để rồi thất vọng như chuyển dịch xã hội thì chúng ta vẫn nên tiến hành thăm dò và đưa ra các phỏng đoán.
…..

Mục lục

Lời tác giả
Chương 1: Lời giới thiệu
Về giai cấp thống trị và giai cấp bị trị: Các quy luật chuyển dịch xã hội
Phần một_Chuyển dịch xã hội theo thời gian và địa điểm
Chương 2: Thụy Điển
Đã đạt được tỉ lệ chuyển dịch xã hội hoàn hảo?
Chương 3: Nước Mĩ
Miền đất của cơ hội
Chương 4: Nước Anh thời Trung cổ
Chuyển dịch xã hội thời phong kiến
Chương 5: Nước Anh thời hiện đại
Nguồn gốc sâu xa của hiện tại
Chương 6: Quy luật chuyển dịch xã hội
Chương 7: Bản chất và tác động môi trường

Phần hai_Kiểm chứng quy luật chuyển dịch xã hội
Chương 8: Ấn Độ - Đẳng cấp, chế độ nội hôn và chuyển dịch xã hội
Chương 9: Trung Quốc và Đài Loan - Chuyển dịch xã hội sau thời Mao Trạch Đông
Chương 10: Nhật Bản và Hàn Quốc - Đồng nhất và chuyển dịch xã hội
Chương 11: Chile - Chuyển dịch trong chế độ quyền lực tập trung
Chương 12: Quy luật chuyển dịch xã hội và động lực gia đình
Chương 13: Tin Lành, Do Thái, Di-gan, Hồi giáo và Coptic - Các ngoại lệ của quy luật chuyển dịch?
Chương 14: Những bất thường của chuyển dịch xã hội
Phần ba_Xã hội tốt đẹp
Chương 15: Chuyển dịch xã hội quá thấp? Chuyển dịch và bất bình đẳng

Chương 16: Thoát khỏi chuyển dịch xã hội đi xuống

Phụ lục 1: Đo lường chuyển dịch xã hội
Phụ lục 2: Suy ra tỉ lệ chuyển dịch từ tần suất tên họ
Phụ lục 3: Tìm hiểu địa vị của dòng họ
Nguồn dữ liệu cho hình và bảng
Nguồn tham khảo
Index

Điểm nhấn
Giấc mơ Mĩ, luôn nhắc kèm cụm từ “tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng” trong Tuyên ngôn Độc lập, được cho là đúng chỉ khi xã hội có tỉ lệ chuyển dịch cao. Mĩ có thể là xã hội bạo lực với ít mạng lưới an toàn cho những người sống dưới đáy xã hội đó. Nhưng với nhiều người, chuyển dịch xã hội nhanh là bằng chứng cho thấy người Mĩ sống trong một đất nước bình đẳng cơ hội, không cần biết hoàn cảnh ra đời của bạn là gì […].
Điều kiện của những người ở dưới đáy xã hội Mĩ, về của cải vật chất, sức khỏe và an toàn cá nhân, có thể rất nghiệt ngã. Nhưng với chuyển dịch nhanh, không ai với mơ ước và ý chí quyết tâm phải sống mãi trong địa ngục nghèo khổ đó. Tuy nhiên, ước tính chuyển dịch theo tên họ dường như hàm ý rằng văn kiện vào ngày lập quốc của Mĩ nên nói: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, nhưng một số người bình đẳng hơn những người khác”.
(Trích Chuyển dịch xã hội quá thấp?, "Sức bật cho thế hệ mới", GREGORY CLARK, Nguyễn Hồng dịch, NXBTT 2017)


Khát Vọng Chân – Thiện – Mỹ

Tác giả: #Lê_Công_Sự Ngày cập nhật: 24-07-2018
Chân (Truth), Thiện (Goodness), Mỹ (Beauty) là ba giá trị nhân bản đồng hành cùng nhân loại từ khi con người có mặt trên Trái đất cho đến tận ngày nay, chúng cùng tồn tại như một chỉnh thể không thể thiếu mà người ta thường gọi là Golden Mean (chuẩn mực vàng) trong mọi lĩnh vực. Chân, Thiện, Mỹ không phải là những phạm trù trừu tượng, mà được nhìn nhận một cách cụ thể trong các lĩnh vực đời sống và khoa học. Chân, Thiện, Mỹ đồng thời mang tính lịch sử, mỗi thời đại khác nhau người ta quan niệm không giống nhau. Triết gia Đức Immanuel Kant khi xây dựng hệ thống triết học đã đặt ra ba câu hỏi: Tôi có thể biết được điều gì? Tôi có thể làm gì? Tôi có thể tin vào điều gì? Sau khi trả lời ba câu hỏi đó, ông đặt ra một câu hỏi tiếp theo: Con người là gì? Chính ở đây, ông đã gợi ý cho chúng ta rằng, con người như một chỉnh thể thống nhất giữa Chân, Thiện, Mỹ. Trần Đức Thảo trong Một hành trình (Paris 1992) viết: “Khi tự vấn mình, ý thức đòi hỏi cái Thiện trong hành động, cái Chân trong tri thức, và cái Mỹ trong sự hoàn thành các quá trình nghiệm sinh, qua đó ý thức biến thế giới tự nhiên thành một nhân giới, xứng đáng với con người
….

"Trong một thế giới đầy biến động và phức tạp như ngày nay, tư tưởng của các danh nhân có giá trị thời sự to lớn, cung cấp cho nhân loại tiến bộ những tri thức về thế giới quan và phương pháp luận để sống và hành động làm sao đó vừa phát triển khoa học công nghệ, đẩy mạnh sản xuất, vừa giữ được môi trường sinh thái, tình người và cuộc sống hòa bình. Tương lai của nhân loại phụ thuộc nhiều vào thái độ sống và cách hành xử của con người thời hiện tại. Nếu số phận của một cá nhân phụ thuộc vào tính cách chung của nhân loại. Nhân loại hãy chung tay góp sức khai mở tâm thức, đề cao tính thiện và sống đẹp để bảo vệ lấy tương lai của mình – đó là sự mong ước duy nhất của chúng tôi khi khai bút viết về cuốn sách này và cũng là mong ước khi viết lời kết cho nó.’’
Trích Sống thiện và sống đẹp, "Khát vọng Chân – Thiện – Mỹ", Lê Công Sự, Nhà xuất bản Tri thức 2017

Mục lục
Đôi lời cùng bạn đọc
Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành
Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp Tự nhiên
Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân
Một con người không thể tắm hai lần trong một dòng sông
Sự thật và Nghịch lý
Con người hãy tự nhận thức chính mình
Giáo dục chân chính như là sự định hướng
Con người là động vật chính trị
Người bắt Mặt trời đứng lại cho Trái đất quay
Dù sao Trái đất vẫn quay
Tri thức là sức mạnh
Chiến tranh là điều không thể tránh
Quyền lực chính trị và xã hội dân sự
Sự cảnh báo về hiểm họa dân số
Nguồn gốc các loài từ cái nhìn khoa học
Người đánh thức văn hóa nguyên thủy
Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại
Người khai sinh thế kỷ Ánh sáng
Pháp luật là tối thượng
Pháp luật là hợp đồng dân sự
Người được mệnh danh là kẻ thù của Chúa
Antinomy là bản tính của tư duy
Nghệ thuật như là sự biểu hiện của ý niệm tuyệt đối
Không phải Thượng Đế sáng tạo nên con người
Chính trị là một hình thức tôn giáo
Tôi có một giấc mơ
Lòng tự trọng cao hơn mạng sống
Vương quốc của Chúa trong lòng bạn
Vô thức là động lực cuộc sống
Chân lý là địa hạt không có lối vào
Người ta sinh ra không phải là đàn bà
Ý nghĩa chính trị của một công thức kinh tế
Tự do và tình yêu, vì các ngươi ta sống
Khoa học bắt đầu từ sự ngạc nhiên
Chính trị chỉ nhất thời, phương trình là vĩnh cửu
Chân lý giúp con người vượt lên số phận
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Đạo ở mình, ta lấy đạo trung
Đau đớn thay, phận đàn bà
Người sinh ra giữa buổi giao thời
Tư duy siêu hình là lực cản phát triển
Thay lời kết: Sống đúng là sống thiện và sống đẹp.

Tác giả
PGS.TS Lê Công Sự, sinh năm 1959 tại Kỳ Phương, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Tốt nghiệp phân khoa Vô thần, khoa Triết học, Đại học Tổng hợp Leningrad, Liên bang Nga (1985). Thạc sĩ triết học (1996), Tiến sĩ triết học (2004), PGS (2014). Hiện là chủ nhiệm bộ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-LêNin, Đại học Hà Nội.

Các sách đã xuất bản:
- "Triết học cổ điển Đức", NXB Thế giới, 2006

- "Học thuyết phạm trù trong triết học Kant", NXB CTQG, 2007


- "Học thuyết phạm trù trong triết học Mác – LêNin", NXB CTQG, 2009

- "Ngôn ngữ và văn hóa", NXB Văn học, 2012


- "Con người qua lăng kính triết gia", NXB CTQG, 2012


- "Triết học cổ đại", NXB CTQG, 2014.