sách hay mới nhất!

Sách của nhà phát hành: #Công_ty_TNHH_Văn_Hóa_Khai_Tâm

Phân loại sách

Good news! chính thức liên kết với mạng xã hội mọt sách, cộng đồng review và chia sẻ sách http://obook.co/

chi tiết >>

Tôn Giáo Và Xã Hội Hiện Đại

Tác giả: #Cao_Huy_Thuần Ngày cập nhật: 25-09-2018

Tôn Giáo Và Xã Hội Hiện Đại

Môn xã hội học ra đời ở châu Âu hồi thế kỷ 19 để nghiên cứu một cách có hệ thống và khoa học những biến chuyển đã đưa châu Âu đến "xã hội hiện đại". Khoa học kỹ thuật lúc đó đã phát triển, Thiên Chúa giáo bị phê phán như lạc hậu, "tính hiện đại" là đối tượng của môn nghiên cứu mới, nhưng đồng thời môn nghiên cứu mới đó cũng mang tính hiện đại. Vì vậy, hiển nhiên, câu hỏi về số phận của tôn giáo nằm tận trong căn bản của môn xã hội học vừa khai sinh. Ngay từ khởi thủy, với Auguste Comte, với Emile Durkheim, với Max Weber, khoa xã hội học đã đặc biệt chú trọng đến hiện tượng tôn giáo, và, cùng với sự lớn mạnh không ngừng của khoa học, đã lạc quan tin tưởng có thể thay thế tôn giáo bằng một đạo đức thế tục mang tính khoa học, cởi bỏ những tin tưởng và những hình thức có tính siêu hình, huyền thoại. Môn xã hội học trở thành vừa là một dụng cụ nghiên cứu, vừa là một khí giới hành động, nhắm mục đích hoàn thiện "tính hiện đại". Từ quan niệm dấn thân như vậy vào quá trình "hiện đại hóa", các nhà xã hội học có khuynh hướng xem tính hiện đại như đối kháng với tính tôn giáo. Mà thật vậy, kỹ nghệ hóa, đô thị hóa, lý tính hóa đã chẳng góp phần vào việc phá vỡ những hệ thống tôn giáo vững chắc qua bao nhiêu chục thế kỷ đó sao? Con người hiện đại ở châu Âu đã chẳng trở nên lạnh lùng, khô cứng, đánh mất "thế giới thần tiên" mà nhân loại đã được nuôi dưỡng qua bao nhiêu thời đại đó sao? Trước tình trạng thoái trào càng ngày càng rõ của Thiên Chúa giáo, đâu có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà xã hội học dự đoán tôn giáo sẽ bay về trời vào cuối quá trình của hiện đại hóa?

Cả hai phía đối kháng đều đã góp phần vào tiên đoán đó. Về phía các nhà xã hội học, Saint Simon, Comte, Durkheim, và sau đó kể cả Marx, với quan niệm tiến hóa diễn ra qua từng giai đoạn kế tiếp bắt buộc, đã vẽ ra một tương lai trong đó tôn giáo truyền thống sẽ úa tàn, sẽ khuất núi, hoặc sẽ được thay thế bằng một tôn giáo thế tục, khoa học. Về phía tôn giáo, sự chống đối bảo thủ quyết liệt để cố giữ lại vị trí ưu tiên trong Nhà nước rồi trong xã hội, suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, đã góp phần minh chứng luận thuyết Nhà thờ và tính hiện đại không đội chung trời. Khái niệm "thế tục hóa" đã trở thành chìa khóa để các nhà xã hội học nghiên cứu hoàng hôn của tôn giáo trong những xã hội kỹ nghệ hóa.

Nhưng có thật "thế tục hóa" và tính tôn giáo chơi với nhau một trận chiến trong đó hễ một người thắng thì người kia thua? Ở Mỹ, không ai thua ai, mà hầu như ai cũng thắng. Ở Nhật, một nước kỹ nghệ hóa từ lâu, tám mươi triệu người vẫn còn giữ truyền thống mỗi dịp Nguyên Đán đi lễ đền một lần để lễ bái và để... xin bùa. Đâu là xã hội "thế tục hóa"?

Châu Âu, trong lĩnh vực tôn giáo, là một mô hình riêng, trong đó địa vị toàn trị của Thiên Chúa giáo trong lịch sử đã gây ra phản ứng chống toàn trị của "thế tục hóa". Khảo sát mô hình Âu châu cốt là để so sánh. So sánh lịch sử của tôn giáo ở đó với tôn giáo ở nơi khác; so sánh địa vị của tôn giáo ở mỗi nơi; so sánh thái độ chính trị của mỗi tôn giáo. Gọi là "tôn giáo", kỳ thực bao nhiêu khác biệt giữa hệ thống tín ngưỡng này với hệ thống tín ngưỡng kia. Cái nhìn, chính trị hay khoa học, phải khác.

Suy Niệm Mỗi Ngày

Tác giả: #Lev_Tolstoy Ngày cập nhật: 25-09-2018

Suy Niệm Mỗi Ngày

Công trình trọng yếu cuối cùng của Tolstoy: Tầm quan trọng, lịch sử hình thành và phát triển, và thông điệp chủ yếu của nó.

The Thoughts of Wise Men (Minh triết của Hiền nhân) là công trình cuối cùng của Lev Tolstoy, công trình mà ông yêu mến hơn tất cả những tác phẩm khác, và ông xem nó là đóng góp quan trọng nhất của ông cho nhân loại. Trong tác phẩm này, Tolstoy chắt lọc và trình bày minh triết tâm linh của nhiều dân tộc, nền văn hóa và giai đoạn lịch sử, để tạo ra một tác phẩm độc đáo, vô song, so với bất cứ cái gì khác trong nền văn học thế giới. Để biên soạn công trình này, ông đã thu góp tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: Những thánh điển, những tôn giáo chủ chốt, những hệ thống triết học lớn, và những tác phẩm văn học của hơn ba trăm trong số những tác giả ưa thích của ông.

Tolstoy dành 8 năm cuối cùng của đời mình cho dự án này, mà thành hình như là một “bộ ba”, phát triển dần qua dăm bảy lần hiệu đính:

- trích Lời giới thiệu

Việt - Pháp Bang Giao Sử Lược

Tác giả: #Phan_Khoang Ngày cập nhật: 25-09-2018

Việt - Pháp Bang Giao Sử Lược

Lịch sử cuộc mất chủ quyền của một nước là lịch sử tối cần thiết cho nhân dân nước ấy.

Vì có thấu hiểu việc trước mới đề phòng và lo liệu cho việc sau, có thấy những sai lầm, những đắc sách của người xưa, thì người nay và người sau mới lo tránh hoặc gắng bắt chước theo, có cảm những hờn tủi của người dân mất nước mới phấn khích, tự cường mà mưu nghĩ đến cuộc phục hưng.

Tâm Lý Bí Truyền

Tác giả: #Osho Ngày cập nhật: 25-09-2018

Tâm Lý Bí Truyền

Đầu tiên, sự tiến hóa vô thức là máy móc và tự nhiên. Nó tự xảy ra. Thông qua dạng tiến hóa này mà ý thức phát triển. Nhưng ở thời điểm ý thức ra đời thì sự tiến hóa vô thức dừng lại, bởi vì mục đích của nó đã được hoàn thành. Sự tiến hóa vô thức chỉ được cần đến cho tới khi ý thức ra đời. Con người đã trở nên ý thức. Theo một cách nào đó thì con người đã vượt lên tạo hóa. Bây giờ tạo hóa không thể thực hiện bất cứ điều gì; sản phẩm cuối cùng có thể thông qua sự tiến hóa tự nhiên đã ra đời. Bây giờ con người trở nên tự do để quyết định có tiến hóa hay không tiến hóa.

Hoa Sen Trên Tuyết

Tác giả: #Alan_Havey Ngày cập nhật: 25-09-2018

Hoa Sen Trên Tuyết

Từ trước đến nay, câu hỏi về cuộc đời vẫn là những câu hỏi lớn, đòi hỏi một nỗ lực phi thường để trả lời.

Trong đà sống quay cuồng, có khi nào chúng ta biết dừng lại để đặt câu hỏi về cuộc sống? Tại sao chúng ta lại sống như vậy? Chúng ta đã biết gì về sự sống? Đây không phải một câu hỏi dành riêng cho các triết gia, học giả hay để mang ra bàn luận lúc trà dư tửu hậu, mà là một câu hỏi thầm kín, có tính cách cá nhân giữa ta và chính ta. Nếu chúng ta không tìm được một câu trả lời thỏa đáng thì có thể cuộc đời chúng ta chỉ vật vờ sống như chiếc lá nổi trôi, lềnh bềnh trên mặt nước, chịu sự lôi cuốn của dòng đời.

Nếu chúng ta không thành thật với chính chúng ta thì có lẽ cuộc đời chỉ là những vở kịch, mà chúng ta là những diễn viên bắt buộc phải diễn xuất cho đến lúc màn hạ. Nếu câu trả lời không đến từ chính nội tâm của chúng ta thì có thể trọn đời chúng ta chỉ chạy theo những ảo ảnh bên ngoài mà không bao giờ hiểu được ý nghĩa thực sự của cuộc sống. Cũng như đa số mọi người, tôi đã lao vào cuộc đời mà không hề tìm hiểu cuộc đời và nếu không có những trải nghiệm sâu sắc, những đau khổ xảy ra thì có lẽ giờ này tôi vẫn còn đang trôi nổi giữa dòng đời mà không ý thức được gì hết.


Những Cuốn Sách Tôi Yêu

Tác giả: #Osho Ngày cập nhật: 25-09-2018

Những Cuốn Sách Tôi Yêu

1984 tại nhà Lão Tử, Rajneeshpuram, Oregon, USA.

Khách, chủ nhà, hoa cúc trắng... Có những khoảnh khắc tinh khôi, tựa những bông hồng trắng, khi chẳng ai cần lên tiếng.

Không có khách

cũng không có chủ…

chỉ có sự tĩnh lặng.

Sự tĩnh lặng nói theo cách riêng của nó, ca bài ca riêng của nó về niềm vui, về sự thanh bình, về vẻ đẹp và phúc lành; nếu không, hẳn sẽ không có một Đạo Đức Kinh, hoặc hẳn sẽ không có một Bài giảng trên núi. Tôi cho rằng đây là những bài thơ thực sự mặc dù chúng không được biên soạn theo lối thi ca. Chúng là những áng văn dị dòng. Chúng nằm ngoài lề. Thật vậy: chúng không thuộc quy tắc, tiêu chuẩn nào, chúng không thuộc về bất cứ những phép đo nào; chúng nằm bên ngoài tất cả những thứ đó, do vậy mà chúng bị lãng quên.

Một vài phần trong cuốn Anh em nhà Karamazov của Fyodor Dostoevsky là thơ ca thuần túy, và một vài phần trong cuốn sách của người đàn ông điên khùng Friedrich Nietzsche - Zarathustra đã nói như thế - cũng vậy. Thậm chí nếu Nietzsche đã không viết cuốn nào khác ngoài cuốn Zarathustra đã nói như thế, thì ông cũng đã phụng sự hết sức lớn lao cho nhân loại - không thể mong đợi nhiều hơn bất cứ ai khác - bởi vì Zarathustra gần như đã bị lãng quên. Nietzsche đã mang ông ấy quay trở lại, trao cho ông sự ra đời mới, một sự tái sinh. Zarathustra đã nói như thế sẽ trở thành Kinh Thánh của tương lai.

Người ta nói Zarathustra đã cười ngay lúc chào đời. Thật khó tưởng tượng một đứa trẻ mới ra đời mà đã cười. Mỉm cười, không sao - nhưng đây lại cười phá lên? Người ta không hiểu Zarathustra cười cái gì, bởi việc cười phá lên cần một bối cảnh.

Đứa bé Zarathustra này đang cười chuyện gì vậy? Nó cười Chuyện cười vũ trụ, cười chính cái thực tại đang hiện hữu này.

Huyền Học Đạo Phật Và Thiên Chúa

Tác giả: #Daisetz_Teitaro_Suzuki Ngày cập nhật: 25-09-2018

Huyền Học Đạo Phật Và Thiên Chúa không hề có kỳ vọng là một nghiên cứu tường tận, có hệ thống về chủ đề đã đưa ra. Sách không ít thì nhiều chỉ là một thu tập những nghiên cứu mà tác giả đã viết dần dà trong khi nghiên độc, nhất là về Meister Eckhart như là một đại diện của Huyền học Thiên Chúa giáo. Vì tư tưởng Eckhart rất là gần gũi với tư tưởng Thiền tông và Chân tông. Thiền và Chân tông dị biệt biểu hiện ở chỗ: Thiền được gọi là Juriki, hay “tự lực”, trong khi Chân tông được gọi là Tariki, hay “tha lực”. Nhưng có một cái gì chung cho cả hai tông mà bạn đọc sẽ cảm thấy. Do đó, ta có thể quy Eckhart, Thiền và Chân tông coi như cùng thuộc về trường phái huyền học vĩ đại. Mối dây liên hệ nền tảng của ba phái trên có thể không luôn luôn rõ rệt trong các trang sau đây. Tuy nhiên, hy vọng của tác giả là nó đủ mức kích thích để lôi cuốn các học giả Tây phương chủ tâm nghiên cứu chủ đề này.

Thiền Và Tâm Phân Học

Ở phương Tây trong suốt nửa cuối thế kỷ XX, Thiền và Phân tâm học là hai lĩnh vực nghiên cứu gây sóng gió trong giới học giả cũng như trong đông đảo công chúng. Cho đến thời điểm hiện nay, những cuộc tranh cãi, những tác phẩm giới thiệu hai môn học này vẫn tràn ngập các diễn đàn và các thư viện Âu-Mỹ. Còn ở Việt Nam, Thiền đã trở thành một trào lưu tìm kiếm, học hỏi và ứng dụng ở mọi lĩnh vực đời sống, thậm chí trở thành một ngôn ngữ thời trang. Còn Phân tâm học thì không được như thế, có lẽ do những khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức cũng như đặc trưng “phương Tây” của môn khoa học này.

Giữa Thiền và Phân tâm học có những điểm chung khi cùng chia sẻ hành trình tìm hiểu tầng sâu trong tâm thức con người, cũng như tìm lời giải cho căn bệnh tinh thần của thời đại, dù ở phương Đông hay phương Tây.

Cuốn sách này tập hợp những bài viết của ba tác giả nổi tiếng: Erich Fromm, Richard de Martino và Daisetz Teitaro Suzuki về Thiền và Phân tâm học. Riêng D.T. Suzuki độc giả Việt Nam đã quen thuộc qua tác phẩm lừng danh “Thiền Luận”.

Thượng Đế, Thiên Nhiên, Người, Tôi Và Ta

Tác giả: #Cao_Huy_Thuần Ngày cập nhật: 25-09-2018

Thượng Đế, Thiên Nhiên, Người, Tôi Và Ta

Tháng 7 năm nay, tôi được hân hạnh giảng một số bài tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế. Học viện đề nghị tôi nói chuyện về luật, không phải luật chỉ cho người học luật, mà cốt là để đối chiếu văn hóa của Tây phương với tư tưởng Phật giáo. Đề nghị đó quả là khó khăn: Phật giáo, khác với các tôn giáo khác, và khác với Khổng giáo, không lấy Nhà nước làm đối tượng triết lý, do đó không có triết lý về luật. Làm sao so sánh?

Thế nhưng Phật giáo có động gì đến xã hội chăng? Làm sao không! Con người sống ở đâu nếu không phải ở trong môi trường thiên nhiên của nó, nghĩa là giữa xã hội, nghĩa là với những con người khác? Hơn thế nữa, con người làm sao sống được nếu không có nước, có ánh sáng, có mặt trời, có con chim nó hót, có cây thông nó reo? Xã hội, trong quan niệm Phật giáo, không phải chỉ giới hạn trong tương quan giữa người với người: đó là quan hệ liên đới sâu thẳm giữa tất cả sự sống với tất cả sự sống. Tương quan là ý niệm căn bản trong Phật giáo. Mà luật là gì trước hết, nếu không phải là quan hệ hỗ tương?

Đơn giản như vậy thôi, nhưng chính ý nghĩa đơn giản đó đã làm điểm tựa để tôi vẽ nó ra bố cục của 6 bài nói chuyện một cách nhất quán.

Tôi nói chuyện trước khoảng 150 thính giả có trình độ năm đầu của Đại học hoặc cao hơn. Luật là kiến thức quá mới mẻ đối với họ, nhưng Phật giáo thì họ đã học nhiều. Điều này buộc tôi vừa không thể đi sâu vào luật, vừa không nên rườm rà về Phật giáo. Vấn đề của tôi là tìm phương pháp để làm nổi bật tính đặc thù của đôi bên trong cái nhìn đối chiếu. Nói cách khác, tôi chỉ mới nhập đề.

Do đó, tôi ngần ngại khi bạn bè tỏ ý muốn in lại các bài giảng của tôi ở nước ngoài. Tôi chỉ mới bới đất, chưa trồng hoa. Và bới đất để trồng hoa còn tùy đất sét hay đất cát. Tôi đã nói như thế, trong lớp học như thế, giữa môi trường như thế. Ra ngoài môi trường đó, biết ai thưởng thức được ai?

Tôi vượt qua ngần ngại vì nhiều lẽ. Trước hết, bạn bè ở bên ngoài cũng nên biết những việc làm ở bên trong. Khiêm tốn, nghèo nàn, Học viện Huế âm thầm, lặng lẽ đóng góp chung thủy của mình vào tương lai văn hóa dân tộc. Ở ngoài khó hiểu hết những khó khăn ở bên trong. Nhưng hãy biết từ những khó khăn đó mà đánh giá những việc làm nhỏ mọn như việc ở xa về làm vài bài giảng. Tưởng như không có gì cả. Vậy mà ý nghĩa đậm đà vô biên. Có những việc không làm được và những việc làm được. Đừng lấy những việc không làm được mà buồn. Hãy lấy những việc làm được mà vui. Đó là lý do khiến tôi không muốn sửa đổi quyển sách cho hợp với điều kiện ở ngoài nước. Tôi muốn trình bày trung thực với bạn bè việc tôi làm, lời tôi nói, không thêm không bớt. Hoa hèn cỏ mọn như vậy đó, nhưng tôi chưa có nỗi vui nào lớn hơn trong cuộc đời giảng dạy của tôi.

Còn một lẽ nữa khiến tôi đồng ý với việc xuất bản này: Tôi muốn kêu gọi bạn bè gởi cảm tình về Học viện, và có lẽ không lời kêu gọi nào chân thành hơn cuốn sách nhỏ này. Ai về Huế hãy ghé thăm Học viện: đơn sơ một dãy nhà giữa gió. Thiếu tất cả. Trừ tấm lòng chung thủy cứ trơ gan cùng tuế nguyệt. Không ai in sách để kiếm tiền! Nhưng bao nhiêu đồng tiền góp được với sách này, bấy nhiêu sẽ gởi về cho ngôi nhà giữa gió đó.

Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí

Tác giả: #Nguyễn_Khoa_Chiêm Ngày cập nhật: 25-09-2018

Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí

Năm 1969, sử gia Phan Khoang khi nghiên cứu lịch sử xứ Đàng Trong đã được tham khảo một truyền bản của Nam triều công nghiệp diễn chí có tên sách là Nam triều Nguyễn chúa khai quốc công nghiệp diễn chí. Ông xác nhận tác phẩm của Nguyễn Khoa Chiêm có giá trị tư liệu lịch sử quý giá, nhưng cũng tinh tế để khỏi sa vào những tình tiết ít nhiều đã bị tiểu thuyết hóa. Quyển Nam triều Nguyễn chúa khai quốc công nghiệp diễn chí - Phan Khoang viết, “đáng ra là rất quý, vì là tác phẩm đồng thời với giai đoạn lịch sử chúng tôi nghiên cứu: Ông Nguyễn Khoa Chiêm làm quan nhiều năm đời chúa Hiển Tông, từ chức Thủ hợp đến chức Tham chính Chánh đoán sự. Nhưng chúng tôi nhận thấy tác giả quá trọng thị phương diện văn chương, dùng văn chương để tô điểm nhiều quá thì e có khi che lấp sự thực đi chăng…”.

Tiếc là chúng ta không biết tin gì thêm về bản sách còn giữ đủ cả sáu chữ Nam triều công nghiệp diễn chí của tên sách cũ, mấy chữ mới thêm vào lại liên quan đến tên sách Việt Nam khai quốc chí truyện của truyền bản hiện còn. Năm 1974, Tập san Sử Địa đã đăng bài khảo cứu công phu Đúng ba trăm năm trước của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Nhân chuyên đề “Kỷ niệm 300 năm ngưng chiến Nam - Bắc phân tranh thời Trịnh - Nguyễn”, Giáo sư Hoàng đã căn cứ vào tác phẩm của Nguyễn Khoa Chiêm để trình bày một cách tóm tắt những sự kiện chính của thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. (Văn bản ông sử dụng là bản HM. 2140 ở Paris có tên là Việt Nam khai quốc chí truyện, tức là bản của L. Cadière đã nói ở trên). Sau khi phân tích các mặt giá trị của tác phẩm, Giáo sư Hoàng viết: “Tôi cũng không nhận sách này là một bộ sử chính quy, nhưng cũng không coi nó là một bộ tiểu thuyết. Đối với những triều chúa Nguyễn, sách này cũng có giá trị tương đương với sách Hoàng Lê nhất thông chí đối với các triều cuối Trịnh và đầu Tây Sơn. Huống chi tác giả đã vâng lời người trên mà soạn, mà người trên ấy có lẽ là chúa Minh vương. Như vậy thì tác giả không dám bịa những chuyện mà người đương thời không biết. Bấy giờ Nam triều đã vững trong hơn một trăm năm, các đại thần đều thông thuộc các họ vào Nam với Nguyễn Hoàng, nghĩa là đã có đời sống phong kiến trong lâu năm. Vậy các công văn gia sử, truyền thuyết gia đình, thần phả, truyền thuyết dân gian bấy giờ chưa bị gián đoạn hoặc bị tiêu hủy vì loạn lạc. Văn học bấy giờ khá thịnh, và những biến cố được ghi cũng rất gần sinh thời tác giả. Bởi những lẽ ấy, tôi nghĩ rằng về đại cương cũng như về chi tiết, sách này khá đáng tin, nhất là về khoảng từ chúa Sãi về sau. Duy chỉ có những lời nói dông dài, những câu văn hay ý nghĩ của các nhân vật được ghi lại, thì ta chỉ nên xem là đại cương hợp lý, và nên huyền nghi về thể thức là thôi.”