sách hay mới nhất!

Hash tag: #Sách_hay_nên_đọc

Phân loại sách

Good news! chính thức liên kết với mạng xã hội mọt sách, cộng đồng review và chia sẻ sách http://obook.co/

chi tiết >>

Harry Potter: The Hogwarts Library Box Set, 3 Volumes

Tác giả: #J.K._Rowling Ngày cập nhật: 25-05-2018
  • Tác giả: #J.K._Rowling
  • Năm xuất bản: 04-2017
  • Công ty phát hành: #Bloomsbury_Childrens
  • Kích cỡ: 12.9 x 19.8 cm
  • Số trang: 432
  • ISBN: 2305128086034 (TI131700)
  • Giá bìa: 1,050,000 đ

Harry Potter: The Hogwarts Library Box Set, 3 Volumes

We are proud to offer the first boxed set of the complete Hogwarts Library, including Quidditch Through the Ages, Fantastic Beasts and Where to Find Them, and The Tales of Beedle the Bard. The books have been completely redesigned to form an elegant boxed set with colorful boards, headbands, footbands, and foil stamping.

VIỆT LÝ TỐ NGUYÊN

Tác giả: #Kim_Định Ngày cập nhật: 25-05-2018
Đây là công trình của một cuộc khảo cổ, khác thường không dừng lại ở khảo cổ, ở bác học nhưng phóng tầm mắt ra bên ngoài, bên trên, bên dưới khảo cổ, lịch sử, bác học để cốt tìm ra những nét căn bản chạy ngầm xuyên qua lịch sử nước nhà, những tính chất có ngay tự đầu và sẽ còn lại mãi mãi với dân tộc, nên gọi là Tố theo nghĩa "bản lai cố hữu".
Độc giả sẽ nhận ra lối khảo cổ như trên chiếu rất nhiều tia sáng kỳ lạ vào con đường chúng ta phải đi để đến đợt văn minh chân thực. Như thế sự quay về học lại nguồn gốc nước nhà dưới mọi khía cạnh văn minh, văn hóa, định chế, sử địa, văn chương,... không còn là một việc khảo cổ suông trong thư viện nữa, nhưng chính là giúp vào việc kiến quốc, tìm ra và củng cố tinh thần dân tộc, đặt nền tảng vững chắc nhất cho nền quốc học mai ngày vậy.
Kim Định.

Đối Diện Cuộc Đời

Tác giả: #Krishnamurti Ngày cập nhật: 25-05-2018
Tác phẩm bạn đọc đang cầm trên tay là tập hợp một số đoạn nhật ký và bài nói chuyện của Krishnamurti trong gần 60 năm cuộc đời diễn giảng của ông.
Trong số các vị đạo sư tâm linh xưa nay thì ta có thể xem Krishnamurti là con người quyết liệt nhất khi nói về điều được mệnh danh là chân lý, là sự thật. Nghe tiếng ông là một người minh triết và giác ngộ, nhiều người tìm đến đế xin nghe giảng thuyết về chân lý, nhưng không ít người bị thất vọng. Lý do giản đơn là, Krishnamurti không bao giờ chịu nhượng bộ, không bao giờ giảng những lời đạo lý chung chung, không bao giờ cho những an ủi khích lệ thông thường, kể cả đối với người bệnh đang nằm chờ chết hay với cha mẹ đang đau khổ mất con. Vì đối với ông, một nửa mẩu bánh mì còn là bánh mì nhưng một nửa sự thật không phải là sự thật. Và sự thật thì lại “không có con đường nào dẫn đến”.
Những người đến nghe ông giảng thường được ông giải thích một cách rạch ròi rằng, tất cả những tầm cầu tưởng chừng như rất đạo đức của họ chẳng qua đều là biến hiện của một tâm thức thèm khát thành tích, mong chờ ân sủng, tìm kiếm sự an toàn và tiện nghi nội tâm. Tất cả những thứ đó đều là biểu hiện của một cái “tôi” ranh mãnh đang chờ...
NỘI DUNG
LỜI NGƯỜI DỊCH
ĐẠO KHẢ ĐẠO, PHI THƯỜNG ĐẠO
ĐỐI DIỆN CUỘC ĐỜI
KHẮNG ĐỊNH TRƯỚC, SUY TƯ SAU?
TỰ BIẾT MÌNH VÀ TỰ THÔI MIÊN MÌNH?
SỰ TRỐN CHẠY KHỎI CÁI ĐANG LÀ
LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC ĐIỀU GÌ LÀ TỐT CHO QUẦN CHÚNG?
“TÔI MUỐN TÌM SUỐI NGUỒN HẠNH PHÚC"
THÚ VUI, THÓI QUEN VÀ SỰKHẮC KHỔ
“ÔNG THAM GIA HỘI BẢO VỆ THÚ VẬT KHÔNG?''
BỊ QUI ĐỊNH VÀ THÔI THÚC MUỐN ĐƯỢC GIẢI THOÁT
CÁI TRỐNG RỖNG NỘI TÂM
VẤN ĐỀ CỦA SỰ TÌM KIẾM
CUỘC CÁCH MẠNG NỘI TÂM
KHÔNG CÓ NGƯỜI TƯ DUY, CHỈ CÓ TƯ DUY BỊ QUI ĐỊNH
“TẠI SAO ĐIỀU NÀY LẠI XẢY RA CHO CHÚNG TÔI?"
CUỘC SỐNG, CÁI CHỂT VÀ SỰ TỒN SINH
SỰ SUY ĐỒI CỦA TÂM
NGỌN LỬA BẤT MÃN
MUỐN THAY ĐỔI XÃ HỘI, BẠN PHẢI TÁCH RA KHỎI NÓ
NƠI NÀO CÓ TƯ NGÃ, NƠI ĐÓ KHÔNG CÓ LÒNG THƯƠNG YÊU
SỰ CHIA CẮT LÀM CON NGƯỜI BỊ BỆNH
TRI THỨC PHÙ PHIẾM
“Ý NGHĨA CUỘC ĐỜI LÀ GÌ?"
VẮNG THIỆN MỸ VÀ LÒNG YÊU THƯƠNG THÌ KHÔNG CÓ GIÁO DỤC ĐÚNG ĐẮN
LÒNG THÙ HẬN VÀ BẠO LỰC
NUÔI DƯỠNG LÒNG NHẠY CẢM
“TẠI SAO TÔI KHÔNG CÓ TRI KIẾN SÂU XA?"
CẢI CÁCH, CÁCH MẠNG VÀ SỰ TẦM CẦU THƯỢNG ĐẾ
NƠI NÀO CÓ SỰ CHÚ Ý THÌ NƠI ĐÓ LÀ THỰC TẠI
CUỐI ĐỜI NHÌN LẠI
CỐT TÙY CỦA GIÁO PHÁP KRISHNAMURTI
HÀNH ĐỘNG TOÀN DIỆN, ĐỪNG TIẾC NUỐI
MỘT MỐI LIÊN HỆ VỚI THẾ GIỚI
TÍNH TOÀN THỂ CỦA ĐỜI SỐNG
CHẤM DỨT PHIỀN NÃO

Ngộ Nhận

Tác giả: #Albert_Camus Ngày cập nhật: 25-05-2018
  • Tác giả: #Albert_Camus
  • Dịch giả: Bùi Giáng
  • Nhà xuất bản: #NXB_Văn_Nghệ
  • Năm xuất bản: 2006
  • Trọng lượng: 200
  • Số trang: 162
  • Giá bìa: 36,000 đ

CHUYỆN ĐỜI THƯỜNG

Tác giả: #Nguyễn_Ý_Đức Ngày cập nhật: 25-05-2018
"Bác sĩ Nguyễn Ý Đức viết sách một cách chăm chỉ, ngày này sang ngày khác, hết chủ đề này sang chủ đề khác, từ chuyện ăn uống thế nào cho khỏe đến những bệnh nghề nghiệp mà người lao động dễ mắc phải. Những bài viết ngắn và cả bài viết dài đều được chắt lọc câu từ một cách cẩn thận giúp người đọc hiểu đúng những gì ông muốn nói. Tính cách điềm đạm của ông cũng đi theo lời văn dung dị trong từng bài viết.
Ngoài những bài viết về giáo dục sức khỏe, ông còn viết những chuyện đời thường, chuyện xã hội, chuyện triết lý sống... Đây là những câu chuyện ngăn ngắn, có khi là một bình luận về câu chuyện xảy ra trong thực tế, có khi là những ghi chép bất chợt… Những câu chuyện được viết ra theo cách một người già kể chuyện đời. Cái hay của người già kể chuyện đời là bao giờ cũng có một bài học mang tính triết lý sống. Ông già Nguyễn Ý Đức là như vậy, kể chuyện miên man từ chuyện này sang chuyện khác, những câu chuyện mà ông cảm thấy lý thú, thấy cần chia sẻ cho mọi người. Sau khi “nghe” xong mỗi câu chuyện, người đọc tự nhiên thấy mình đang đi tiếp cho phần tiếp theo của câu chuyện đó. Người nghe bị ông dẫn dắt vào những suy nghĩ mới như thể một đứa trẻ được nghe truyện cổ tích và tiếp tục mơ mộng về câu chuyện."
Bác sĩ PHAN XUÂN TRUNG

Tự truyện Gandhi

Tác giả: #Mahatma_Gandhi Ngày cập nhật: 25-05-2018

Lời giới thiệu
Năm 17 tuổi, đang học Trung đẳng Phật học, bấy giờ tình cờ tôi được đọc một cuốn sách Việt ngữ nói về Thánh Gandhi. Không còn nhớ rõ tên tác giả, nhưng cuốn sách ấy đã làm cho tôi chịu ảnh hưởng rất nhiều của Ngài, ngoài ảnh hưởng của Phật.
Sau này, khi biết suy tư về tình trạng của xứ sở, Thánh Gandhi đã cho tôi một sự dung hóa tuyệt hảo, không gượng ép, về tín ngưỡng với tổ quốc, với cuộc đời.
Đó là một ân huệ lớn lao cho tôi, bây giờ và chắc chắn sau này vẫn còn mãi. Xin ghi lại ân huệ đó để giới thiệu dịch phẩm này, hay bất cứ cái gì về Thánh Gandhi.
- Trí Quang
-----------------
… Những gì tôi muốn hoàn thành - những gì tôi đã nỗ lực khát khao hoàn tất suốt ba mươi năm nay - là khát khao tự chứng, khát khao đối mặt cùng Thượng Đế, khát khao đạt đến Giải thoát. Tôi sống, di động, tồn sinh trong cuộc săn đuổi cùng đích này. Tất cả những gì tôi làm qua lời nói và viết lách, tất cả những mạo hiểm của tôi trong trường chính trị đều hướng về cùng đích ấy…
… Trong câu chuyện này, tôi sẽ chỉ kể những vấn đề tôn giáo nào mà cả trẻ con lẫn người lớn đều có thể hiểu được. Nếu tôi có thể kể chúng trong tinh thần khiêm cung và vô dục, nhiều hành giả khác sẽ tìm thấy trong những mẫu chuyện ấy hành trang để tiến lên. Tôi tuyệt nhiên không tự hào những kinh nghiệm ấy là hoàn hảo. Tôi không xác quyết gì về chúng, chẳng khác nào một nhà khoa học dù đã hết sực thận trọng, kỹ lưỡng và chính xác trong những cuộc thí nghiệm, cũng không bao giờ đoan chắc những kết luận của ông là tuyệt đối, mà luôn luôn có tinh thần mở rộng trước những kết luận ấy. Tôi đã trải qua những nội quán sâu xa, tự kiểm điểm hết mình, khám nghiệm và phân tích hết mọi trạng huống tâm lý. Tuy nhiên tôi vẫn tuyệt đối không đoan quyết những kết luận của tôi là tối hậu và không lỗi lầm…
- trích Lời mở đầu

Bùi Giáng Trong Cõi Người Ta

Tác giả: #Đoàn_Tử_Huyền_chủ_biên Ngày cập nhật: 25-05-2018
Lời người biên soạn (cho lần in thứ nhất)

Đã 10 năm kế từ khi Bùi Giáng (1926 - 1998) rời “cõi tạm”, đời chưa quên ông, - cũng như chưa quên Trịnh Công Sơn, người bạn ra đi sau ông gần ba năm. Thơ, nhạc được yêu mến vẫn sống, như nhu cầu rong chơi của hồn nghệ sĩ. Ngày đêm nơi Sài Thành phố thị, thì ẳt hẳn rồi.
Sài Gòn, Chợ lớn rong chơi/ Đi lên đi xuống đã đời đu côn, Đến đất Thần kinh cũ, Ta và Người lại Dạ thưa xứ Huế bây giờ/ vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương... Chỉ tiếc Bùi Thi Sĩ chưa kịp ghé Bắc Hà, đến Thăng Long, để thêm vài câu thơ lai rai bất tuyệt cùng năm tháng. Nhưng ở đâu Người và Ta vẫn Xin chào nhau giữa con đường/ Mùa xuân phía trước miên trường phía sau!
Có một điều, về Bùi Giáng đã nói nhiều, viết nhiều trên báo chí, nhưng cho đến nay vẫn còn quá ít những cuốn sách dành riêng cho ông - theo chúng tôi biết, ngoài mấy số đặc san về Bùi Giáng, thì chỉ mới có vài ba tập sách mỏng* . Phần lớn các tác giả viết về Bùi Giáng là những bạn bè văn nghệ sĩ, những người đã cùng sống, đã từng tiếp xúc với nhà thơ, đa số là cùng quê hương xứ Quảng với ông, ghi lại những kỉ niệm, ấn tượng, giai thoại... về ông. Hầu như chưa có nhà nghiên cứu nào sống ở miền Bắc viết về Bùi Giáng. Và cũng chưa có nhiều những tiểu luận, chuyên khảo sâu, dài hơi và đủ đầy về thế giới thơ của ông.
Chẳng lẽ Thơ Bùi Giáng chưa vượt khỏi khu vực, địa phương, vẫn mới nằm trong mối quan tâm dân gian, báo chí?
Trong một lần nói chuyện với anh Nguyễn Thanh Hoài, người cháu - bạn vong niên cuối đời của Đại Lão Thi Sĩ, đã nảy ra đề xuất in một cuốn sách dày dặn hơn về Bùi Giáng. Để thực hiện dự định đó, chúng tôi cố gắng sưu tầm tư liệu về Bùi Giáng, những bài viết đã có từ các nguồn sách báo, internet, và nhất là vận động các nhà nghiên cứu viết nhữmg công trình mới. Tuy nhiên, làm việc ở Hà Thành, nơi hầu như không có nhũng người trực tiếp “rong chơi ” với “Thi Sĩ Kì Dị”, lại có quá ít sách vở, tài liệu về ông, nên công viêc gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, bị câu thúc bởi thời gian - muốn cuốn sách ra kịp ngày giỗ Bùi Giáng lần thứ 10, - nên một phần kế hoạch đến nay chưa kịp thực hiện được trọn vẹn.
Dù vậy, sản phẩm cũng đã có trên tay bạn đọc. Xin chân thành cám ơn các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu đã nhiệt tình giúp đỡ và cho phép chúng tôi sử dụng bài vở vào tập sách này. Có một số tác giả do điều kiện khách quan chưa thể liên hệ được, chúng tôi mong được lượng thứ và xin liên lạc với chúng tôi qua địa chỉ của Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây:
Email: [email protected];
[email protected]
Điện thoại: 04.2671117; 0912621411.
NBS



Thêm vài lời cho lần in thứ hai

Sau ba năm kể từ ngày ra đời, tập sách được bạn đọc đón nhận và đến nay đã vắng bóng trên các quầy sách bán. Mặt khác, trong thời gian qua cũng xuất hiện thêm nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về Bùi Giáng – chứng tỏ sự quan tâm đối với nhà thơ và sáng tác của ông không hề thuyên giảm - cần được tập hợp lại. Do vậy, chúng tôi tái bản Bùi Giáng trong cõi người ta với một số bổ sung, sửa chữa mới. Trong phần viết về Bùi Giáng, ngoài 34 bài đã in trước đây vẫn giữ nguyên, chúng tôi bổ sung thêm 13 bài, phần lớn là các bài mới viết trong thời gian gần đây, đặc biệt có công trình của nhà nghiên cứu văn học Đỗ Lai Thúy, đại diện cho những cây bút phê bình miền Bắc viết về Bùi Giáng đến bây giờ vẫn còn hiếm hoi.
Lần in này của cuốn sách được thực hiện nhân kỉ niệm 85 ngày sinh cùa Bùi Giáng với hi vọng đáp ứng phần nào nhu cầu quan tâm của độc giả và sẽ gợi nối được thêm những công trình nghiên cứu mới về Thi Sĩ Kì Dị của chúng ta.
NBS

*Trong Thư viện Quốc gia Việt Nam chúng tôi chỉ tìm thấy ba cuốn sau:
1. Bùi Văn Nam Sơn, Nhuận Quốc, Trần Đới. Tưởng nhớ thi sĩ Bùi Giáng: Kỷ niệm một năm ngày mất Bùi Giáng (7.10.1998 - 7.10.1999), Nxb. Trẻ, 1999, 157 trang
2. Trần Đình Bùi Giáng - thi sĩ kì dĩ, NXB Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2005, 259 trang
3. Hô Công Khanh Bùi Giáng trong tôi, NXB văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, 2005, 156 trang.
MỘT
Cõi thơ Bùi Giáng
(tác phẩm Bùi Giáng)
I. 82 bài thơ
II. Đi vào cõi thơ
Lời tựa của Bùi Giáng
Nguyễn Du
Trần Trọng Kim
Tản Đà
Hoài Thanh
Hàn Mặc Tử
Huy Cận, Xuân Diệu
Ngân Giang nữ sỹ
Hồ Dzếnh
Phạm Hầu
Đinh Hùng
Bùi Giáng
Tuệ Sỹ
Lý Bạch
Shakespeare
Thơ
Dịch
Tư Tưởng và Thi Ca
HAI
Một mai nhìn lại (viết về Bùi Giáng)
I. Hỏi Tên? Rằng biển xanh dâu
BÙI GIÁNG. Tiểu sử tự ghi
BÙI VĂN NAM SƠN. Vài nét về Bùi Giáng
ĐẶNG TIẾN. Sơ thảo tiểu truyện Bùi Giáng

II. Xin chào nhau giữa con đường
BÙI TƯỜNG. Lại một nhà thơ độc đáo
CUNG TÍCH BIỀN. Bùi Giáng, nhà thơ của ngày tháng ngao du
CUNG VĂN - NGUYÊN VẠN HỒNG. Thi sĩ “Phóng túng hình hài, ngang tàng tính mệnh”
ĐOÀN VỊ THƯỢNG.
* Siêu hình Bùi Giáng
* Liên tài và tri ngộ
HOÀNG KIM. Bùi Giáng và những người thân
HOÀNG PHỦ NGỌCC TƯỜNG. Bùi Giáng trong tôi
LÊ VINH QUỐC. Bùi Giáng rong chơi một ngày, một đời
MAI THẢO. Một vài kỷ niệm với Bùi Giáng
NAM DAO. Đỉnh ảo, một đời thơ
NGUYÊN CẨN. Bùi Giáng trong đời tôi
NGUYỄN HOÀNG VĂN. Bùi Giáng, một vùng đất hẹp và một thế giới lớn
NGUYỄN QUANG LẬP. Nhớ Bùi Giáng
PHẠM MẠNH HIÊN. Một ít kỷ niệm với anh Bùi Giáng
THANH THẢO. Tôi gặp Bùi Giáng
THY HẢO TRƯƠNG DUY HY. Bùi Giáng với những hình ảnh đã đi vào ký ức tôi
TRẦN KIÊM ĐOÀN. Tửng Tửng Quảng gặp Tửng Tửng Huế
III. Ta đi còn gửi đôi dòng
BÙI CÔNG THUẨN. Bùi Giáng, ai người chia sẻ
BÙI VĂN NAM SƠN. Bùi Giáng với “Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại”: Cuộc hôn phối tưng bừng
BÙI VĨNH PHÚC.
I. Bùi Giáng, bước chân đi tìm hồn nguyên tiêu và một màu hoa trên ngàn
II.Thử thẩm thức vài câu thơ của Bùi Giáng
ĐẶNG TIẾN. Bùi Giáng, nguồn xuân
ĐỖ LAI THÚY. Bùi Giáng, nhà thơ cùa các nhà thơ
ĐỖ QUYÊN. Viết vào Bùi Giáng mong manh
HOÀNG HẢI VÂN. Đọc Bùi Giáng
HUỲNH NGỌC CHIẾN. Hồn quê trong thơ Bùi Giáng
KHẾ IÊM. Một thử nghiệm đọc thơ Bùi Giáng
NGUYỄN HUNG QUỐC. Cuộc hoà giải vô tận:Trường hợp Bùi Giáng
NGUYÊN HỮU HỒNG MINH. 'Người thơ” cuối cùng của thế kỷ 20
NGUYỄN MỘNG GIÁC. Nghĩ về Bùi Giáng, Hàn Mặc Tử và Thanh Tuệ
NGUYÊN VĂN NHO. Bùi Giáng, đàng sau những câu thơ
NHẬT UYÊN. Đi vào cõi thơ Bùi Giáng
TẠ TỴ. Bùi Giáng - người thi sĩ chối bỏ thi ca
THANH TÂM TUYỀN. Bùi Giáng, hồn thơ bị vây khổn
THU BỒN. Trường phái Bùi Giáng
THỤY KHÊ. Hiện tượng Bùi Giáng
TRẦN HỮU THỤC. Bùi Giáng giữa chúng ta
TRẦN NỮ PHƯƠNG NHI. Thơ Bùi Giáng dưới lăng kính phê bình cổ mẫu
TRƯƠNG VŨ THIÊN AN. Bùi Giáng và mùa xuân phía trước
TUẤN HUY. Những ngọn cỏ sầu của Bùi Giáng
VĂN HUYÊN NGUYÊN. Bùi Giáng – người lữ khách cuồng điên và khôn cùng kỷ niệm
VŨ ĐỨC SAO BIỂN. Bùi Giáng: Rong chơi giữa đìu hiu phố thị
Ý NHI. Bùi trong trong “cõi người ta”
YẾN TỬ. Phật Giáo trong thơ Bùi Giáng
BA
Phụ lục
(Tranh, ảnh, Bút tích Bùi Giáng)

Những Thế Giới Song Song

Tác giả: #Phùng_Ngọc_Kiên Ngày cập nhật: 25-05-2018
Bản dịch văn chương, và cùng với nó là hành vi dịch, có tính không thuần chất trong hệ thống văn chương bản địa. Nó là một kẻ xa lạ, và vì thế có tính lai ghép (hybridité). Tính khác (altérité) và sự lai ghép gợi ý rằng sự có mặt của nó trong văn chương bản địa gắn với những khoảng trống luôn tiềm tàng ở mọi hệ thống. Bởi thế việc xem xét chúng mang đến cơ hội đặc biệt thú vị để đánh giá những lời đáp lại với những câu hỏi được hệ thống bản địa nêu ra. […] Cho nên với một người dịch cũng như với một nhà văn, viết văn chẳng phải là cái gì khác ngoài việc phá vỡ chính những quy tắc của mình và xã hội từng thiết lập để tạo ra thành công, cũng đồng thời có thể là những quy tắc và giới hạn mới. Nếu “viết là tìm thấy một quy tắc trên cơ sở đánh một quy tắc” của mình và người, dịch là để xâm phạm, phá vỡ những chuẩn mực hoặc điển phạm đã có nhằm tạo nên cái mới cho ta và về kẻ khác.
Một bản dịch không bao giờ có thể một lúc truyền tải kiệt cùng ý nghĩa của một bản văn, cũng như một bài phê bình chẳng bao giờ “đọc hết” một tác phẩm. Cho nên, ta buộc phải chấp nhận một thực tế rằng không bao giờ có một diễn dịch trọn vẹn về một sự thật duy nhất hay một ý nghĩa được phát lộ đối với một bí ẩn tối cao được hàm ý là thuộc về tác giả. Bởi vì ý nghĩa tiềm năng của một tác phẩm luôn là một sự tổ hợp của những cách diễn dịch hay diễn giải do người đọc nêu lên trong những hoàn cảnh cụ thể. […] Giả thiết về hành động đọc được viết lại của việc dịch văn chương, diễn dịch một tác phẩm dứt khoát không phải là duy nhất và có tính tiên nghiệm (à priori), mà đa chiều và có tính hậu nghiệm (postériori). Vì mỗi bản dịch không thể truyền tải tức thì mọi ý nghĩa có thể của bản gốc, nên việc dịch lại trở thành đương nhiên đến mức nó sẽ góp phần mang đến những sắc thái khác nhau. Việc dịch lại làm việc đọc và ngôn ngữ trở nên tươi mới (W. Benjamin), việc dịch lại kích thích nhu cầu đọc lại như một cách tái diễn giải những tác phẩm kinh điển (Calvino), dịch lại như một cách làm giàu cho chính bản gốc và di sản nhờ vào định đề dịch đa chiều. Và chính bởi thế mà đời sống tác phẩm gốc trở nên dài hơn (P. Valéry).

Mục lục
BIỂU KIẾN KINH NGHIỆM THẨM Mĩ
Thách thức và cơ hội
Tái diễn giải trong hành vi dịch
Kinh nghiệm thẩm mĩ
Thêm vài lưu ý
Về Flaubert ở Việt Nam
KHÔNG GIAN BẤT KHẢ XÂM PHẠM?
Những thế giới khác chiều
Tính bất cân xứng về giá trị
Charles
Emma
những THẾ GIỚI HƯ CẤU BIẾN DẠNG!
... Theo hình dung của người-dịch-đọc
... Theo cách viết lại của người-dịch-viết
... Về Charles
... Về Emma
Câu chuyện thị trường
NƠI CÒN LỜI KẺ KHÁC...
Bình xét tự do
Bằng sự thác lời
Bằng việc mượn ý
Kể cho ai?
Người quen!
Kẻ lạ?!
NHỮNG THẾ GIỚI SONG SONG
LỜI CUỐI SÁCH
ChỈ MỤC tên riêng và thuật ngữ
Mục lục

BIỂU KIẾN KINH NGHIỆM THẨM Mĩ

Thách thức và cơ hội

Tái diễn giải trong hành vi dịch

Kinh nghiệm thẩm mĩ

Thêm vài lưu ý

Về Flaubert ở Việt Nam

KHÔNG GIAN BẤT KHẢ XÂM PHẠM?

Những thế giới khác chiều

Tính bất cân xứng về giá trị

Charles

Emma

những THẾ GIỚI HƯ CẤU BIẾN DẠNG!

... Theo hình dung của người-dịch-đọc

... Theo cách viết lại của người-dịch-viết

... Về Charles

... Về Emma

Câu chuyện thị trường

NƠI CÒN LỜI KẺ KHÁC...

Bình xét tự do

Bằng sự thác lời

Bằng việc mượn ý

Kể cho ai?

Người quen!

Kẻ lạ?!

NHỮNG THẾ GIỚI SONG SONG

LỜI CUỐI SÁCH

ChỈ MỤC tên riêng và thuật ngữ Mục lục

BIỂU KIẾN KINH NGHIỆM THẨM Mĩ

Thách thức và cơ hội

Tái diễn giải trong hành vi dịch

Kinh nghiệm thẩm mĩ

Thêm vài lưu ý

Về Flaubert ở Việt Nam

KHÔNG GIAN BẤT KHẢ XÂM PHẠM?

Những thế giới khác chiều

Tính bất cân xứng về giá trị

Charles

Emma

những THẾ GIỚI HƯ CẤU BIẾN DẠNG!

... Theo hình dung của người-dịch-đọc

... Theo cách viết lại của người-dịch-viết

... Về Charles

... Về Emma

Câu chuyện thị trường

NƠI CÒN LỜI KẺ KHÁC...

Bình xét tự do

Bằng sự thác lời

Bằng việc mượn ý

Kể cho ai?

Người quen!

Kẻ lạ?!

NHỮNG THẾ GIỚI SONG SONG

LỜI CUỐI SÁCH

ChỈ MỤC tên riêng và thuật ngữ

Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ - một tác phẩm của tác giả Svetlana Alexievich - Nobel văn chương 2015, bản dịch đầy đủ nhất từ trước tới nay, không cắt gọt, không kiểm duyệt của chính tác giả do dịch giả Nguyên Ngọc dịch mới hoàn toàn. Có một cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai mà bạn chưa từng nghe nói tới, những câu chuyện chưa bao giờ được đưa ra ánh sáng, những số phận gắn liền với chiến tranh, đã được tác giả tái hiện lại một cách chân thực nhất, đầy đủ nhất trong "Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ". "Ở đấy, ta không thấy anh hùng cũng chẳng thấy chiến công không tưởng tượng nổi, mà chỉ đơn giản có những cá nhân bị cuốn vào một công việc phi nhân của nhân loại. Và trong ấy, không chỉ có họ (con người!) phải chịu đau đớn vì chiến tranh: cùng với con người là đất đai, chim chóc, cây cỏ. Toàn bộ thiên nhiên. Chúng chịu đau đớn mà chẳng nói được một lời, thế càng kinh khủng hơn… Thậm chí một sai lầm lớn. Còn có một cuộc chiến tranh khác mà chúng ta không biết."

Trích đoạn
"Cùng chúng tôi có một nữ điện báo viên. Cô vừa sinh dậy. Đứa bé còn rất nhỏ, phải cho bú. Nhưng người mẹ không đủ ăn, thiếu sữa, và đứa bé khóc. Bọn SS ở rất gần… Với cả chó. Nếu chúng nghe được, thì chúng tôi chết hết. Cả đội. Ba chục người… Cô hiểu không?
Chúng tôi có một quyết định…
Không ai dám truyền đạt lệnh của người chỉ huy, nhưng tự người mẹ đoán ra. Cô nhận đứa bé địu trên người xuống nước và giữ hồi lâu… Đứa bé không còn rống lên nữa. Nó đã chết. Và chúng tôi không ai dám ngước mắt lên nữa. Về phía người mẹ, và về bất cứ người nào trong chúng tôi…"

HIỆN TƯỢNG KRISHNAMURTI

Tác giả: #Trúc_Thiên Ngày cập nhật: 25-05-2018
Khi tâm trống không mọi vật của trí, khi trí trống không mọi niệm của tâm thì có tình thương; chỉ có cái không mới là vô tận .
Cái nghiệp quái gỡ nhất của chúng ta là… suy nghĩ. Thật vậy, ta nghĩ suốt ngày đêm, khi đi đứng nằm ngồi, và cả trong giấc ngủ. Xem tranh đọc sách cũng là nghĩ. Tưởng nhớ cũng là nghĩ. Chiêm bao cũng là nghĩ. Lắm khi bực mình ta muốn ném quách sự đời, không thèm nghĩ nữa. Nhưng không nghĩ cũng là nghĩ: nghĩ cái không nghĩ. Cái vòng luẩn quẩn.

Ta có cảm tưởng có nghĩ thì trong người mới được thăng bằng, bằng không ta sẽ mất thế đứng và rơi vào hư vô mất. Ta sợ cái hư vô ấy. Càng sợ càng nghĩ.

Vậy, suy nghĩ tức chạy trốn cái hư vô ấy, chạy trốn trong thế giới ảo tưởng do mình tạo ra bằng những ý nghĩ. Chính cái việc chạy trốn ấy mà ta gọi là tìm chân lý.

Không phải ta không đủ khả năng hiểu chân lý mà chính ta xua đuổi chân lý bằng cách bám víu vào ảo tưởng

.
Bám víu: Đó là bản năng tự vệ của con người.

Con người không thể sống được với một trí óc trống không, mà luôn luôn phải bám víu hết ý nghĩ này đến ý nghĩ khác, có thế mới được thăng bằng – cái thế thăng bằng mỗi lúc bị phá đổ và lặp lại mãi. Cả cuộc đời chúng ta đều kết bằng những chuỗi sợ hãi và mưu toan lẩn trốn ấy. Có bao giờ chúng ta dám đừng sợ, đừng trốn nữa, mà thử gan lì nhìn thẳng vào cái hư vô ấy coi nó là cái quái gì, thực hay giả?

Nếu ta dám nhìn thẳng vào hư vô ấy, vào dòng tâm niệm ấy, ta sẽ thấy gì?

Mặc dầu tư tưởng tác động mau, chuyển động gấp, vẫn có những lỗ trống, những khoảng ngưng từ ý nghĩ này nhảy qua ý nghĩ khác. Giữa hai ý nghĩ luôn luôn có một khoảng lặng im cắt đứt hẳn dòng diễn tiến của tư tưởng. Xét kỹ, ta sẽ thấy khoảng lặng im ấy không thuộc về thời gian. Khám phá, nhận rõ được khoảng trống ấy là thoát ly khỏi mọi ràng buộc.

Thật vậy, chúng ta nghĩ liên miên như dòng nước chảy, nhưng thỉnh thoảng có lúc ta không nghĩ. Đó là những phút giây kỳ diệu nhất của cuộc sống, trong ấy hoàn thành tất cả công trình siêu việt nhất của loài người. Trong khoảng vô biên không tư tưởng ấy, con người trở thành bao la giữa cái bao la của vũ trụ. Trí óc không bồn chồn nữa mà lặng im đi; tự khối im lặng ấy, ánh sáng tự bừng ra, và ta hiểu, hiểu thấm thía, rốt ráo, chứ không phải hiểu vụn vặt bằng trí thức suy luận.

Sự hiểu biết đến với chúng ta bằng những tia chớp, và phải có những khoảng im lặng thì tia chớp mới xẹt được. Sự hiểu biết không phải ở lời nói suông, mà cũng không dính dấp gì đến suy luận. Suy luận chỉ là lời nói suông, nên suy luận không hiểu gì ráo.

Sự hiểu biết đến với chúng ta tự khoảng cách giữa hai tiếng nói, trong khoảng ấy tiếng nói chưa thốt ra, chưa tạo thành ý nghĩ.
Khoảng cách giữa hai tiếng nói, là cái hiện tại không có thời gian, cái hiện tiền không có tư tưởng, phi lý mà huyền vi, không mà là tất cả. Đó là nguồn động lực từ đó muôn vật hóa sanh. Đó là nguồn ánh sáng và tình thương, từ đó hàng đạt đức phát ra những đợt sóng bác ái, hàng đạt đạo chứng ngộ chân lý, và ở một bình diện thông thường hơn, hàng văn nghệ sĩ khơi nguồn mỹ cảm.

Hơn ai hết, người nghệ sĩ thường được diễm phúc sống những giây phút bao la không suy niệm ấy, tâm tư ngưng đọng, trí óc lắng im, những phút giây “không” để cho nghệ thuật tự chọn chữ, gieo vần, pha màu, nắn cung bậc. Say sưa trong sáng tạo, người văn nghệ hòa đồng với tác phẩm, với trời đất, thân chứng vào vĩnh cửu.

Vĩnh cửu không có thời gian, nên văn nghệ phẩm không hề lỗi thời, giữa dòng biến dịch chứng lẽ Bất Động.

Vĩnh cửu không có tư tưởng, nên văn nghệ phẩm không nhằm nói lên gì hết, thể hiện cái Vô Cùng.

Vĩnh cửu không có tâm, nên văn nghệ phẩm tùy duyên mà thành tựu cái Tâm Đại Đồng.

Nhưng rồi tác phẩm chấm hết, và nghệ sĩ nắn nót ghi thêm vào đó một danh hiệu, kèm theo ngày tháng. Quả là một trò sang đoạt phủ phàng!

Tác phẩm vốn vô tâm mà tạo ra, nay chuyển sang làm của riêng của một cái tôi xấu hổ.

Tác phẩm xây dựng lên trong một cơn hứng khởi không thời gian, nay thời gian in dấu vào làm một vật lưu niệm giữa dòng đời trôi chảy.

Tác phẩm thành hình trong khoảng nhập thần không suy niệm, nay niệm dấy lên, và so đo cân nhắc, tung ra chợ đời làm mồi câu danh lợi.

Thử xem các nhà thi sĩ, nhạc sĩ, văn nghệ sĩ: lẽ ra các ông ấy phải là vô danh, tách lìa khỏi tác phẩm mình. Nhưng hầu hết lại thích ký tên vào tranh. Họ muốn danh vọng và địa vị đó.

Từ lúc những người làm văn nghệ, hoặc nói chung chúng ta, gọi tên lên là bắt đầu có xáo trộn, cái giả đánh tráo vào cái chân, cái danh chiếm chỗ cái thực.

Thật vậy, tên gọi là một phù hiệu dùng để chỉ sự vật. Sự vật một khi đã thông đạt thì tên gọi quên luôn. Nhưng trên thực tế thì tên gọi càng ngày càng đồng hóa thành sự vật, thay thế luôn sự vật. Cái danh chôn vùi cái thực, như một nhãn hiệu dán lấp một món hàng.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vui lòng với những nhãn hiệu ấy. Chúng ta suy luận, chọn lựa, đánh giá gì cũng đều nhắm vào những nhãn hiệu ấy. Cho đến ngay chúng ta cũng biến thành nhãn hiệu nốt. Con người là nhãn hiệu. Xã hội là nhãn hiệu. Chân lý là nhãn hiệu. Đó là thế giới ảo tưởng của danh từ: từ một “cơ” tâm, con người tạo ra một “cơ” giới múa máy bằng những “cơ” sự. Cho nên, Cùng một đóa hoa, thấy bằng mắt là một việc, còn thấy bằng danh từ lại là một việc khác.

Thấy bằng danh từ là thấy bằng cái tôi – cái tôi phóng ra ngoại giới làm đối tượng cho cái thấy.

Cái tôi, nhìn ở góc cạnh khác là thế này:

Con người là cái toàn thể, không phải lý mà cũng chẳng phải tình, không phải tâm mà cũng chẳng phải vật. Nhưng rồi bỗng dưng con người nổi lên một ý muốn kỳ cục: muốn tự mình nhìn thấy lại mình cho thỏa thích như chàng Narcisse thỏa thích ngắm bóng mình in trên dòng nước. Tự đó có phân tâm, và con người sa đọa vào vô minh và đau khổ. Tự đó, cùng ở một người tách làm hai: có người sống và người nghĩ; có người hành động và người quan sát người hành động; có người hát và người nghe hát. Người nghe hát là một phân thân của người hát – là cái tôi vậy. Kết quả là con người tự đồng hóa hẳn với cái tôi.

Nói rộng ra, tất cả những gì con người đồng hóa vào thì đó chính là cái tôi.

Cái tôi của ông nhà giàu là tủ bạc. Cái tôi của thí sinh là mảnh bằng. Cái tôi của gã si tình là cô gái. Cái tôi của ông chính khách là kế hoạch bình trị. Cái tôi của ông tu sĩ là cảnh giới siêu hình nào đó, trong đó, hoặc ông thành một cái gì, hoặc ông tự hủy trong hư vô.

Đặc biệt hơn, con người đồng hóa với tương lai để mong thành một ước nguyện: cái tôi là thời gian.

Con người đồng hóa với tư tưởng mình thì cái tôi là tư tưởng:

Cogito ergo sum: Tôi nghĩ tức là tôi có thật (hiện hữu).

Nếu không có người tư tưởng thì không có tư tưởng. Chính tư tưởng phát sinh ra người tư tưởng. Người tư tưởng sống nhờ kinh nghiệm, tạo ra thời gian, và đó chính là nguồn gốc của lo sợ.

Vậy người ta tư tưởng vì người ta khát khao được hiện hữu, được trở thành một cái gì đó ở ngày mai vì ở hiện tại người ta sợ hư vô, sợ không là gì hết.

Các bạn không là gì hết. Bạn có thể có của cải, chức vị, tên tuổi, tiền bạc gửi nhà băng, có thế lực và danh vọng nhưng tất cả những thứ che chở ấy không che nổi cái không là gì hết của bạn. Có thể bạn không ngờ, hoặc không thèm biết đến cái không ấy, nhưng nó vẫn sờ sờ đó, dầu bạn cố tránh… Bạn không thể tiếp xúc với cái hư vô ấy. Bạn với hư vô chỉ là một hiện tượng, không phải là hai dòng diễn biến riêng rẽ.

Suy niệm là động tác riêng rẽ nhằm giúp cái tôi trở thành một cái gì, hoặc không trở thành gì hết, hoặc tiêu cực hoặc tích cực, hoặc muốn thành tiên thánh, hoặc tự tiêu diệt đi, vẫn là muốn cả, vẫn là đặt cái tôi làm chủ đích. Cho nên nghĩ là nuôi dưỡng cái tôi: suy niệm là bản năng tự vệ của tự ngã.

Nguồn gốc của cái tôi là quá khứ, nên nghĩ là phủ nhận hiện tại, chối bỏ thực tại. Do đó có mâu thuẫn.

Nói một cách khác, mâu thuẫn sở dĩ có vì ta hiện giờ là thế này ta muốn trở thành thế khác, theo một hình tượng nào đó. Ta bóp chết con người hiện tại để dựng tượng cho con người mai sau, hình dung theo một đường lối suy tư nào đó. Ngày mai đã không khi nào nắm được trong khi hiện tại lại thoát khỏi ta, ấy thế là có mâu thuẫn và xung đột. Cho nên khi con người nhân danh một ý thức hệ nào đó, cả đến ý thức hệ theo đạo giáo, mà rêu rao một kế hoạch hòa bình là đồng thời đặt luôn nền móng cho chiến tranh. Lấy “trị” mà trừ “loạn” đời càng thêm loạn. “Trị” không thể là một ý thức hệ. Ý thức hệ là loạn – loạn là gốc, từ nội tâm.

Cũng vậy, vì nội tâm loạn nên ta ao ước ánh sáng. Ao ước ánh sáng tức là khép chặt hết cửa nẻo trước ánh sáng. Ánh sáng không thể là một niềm ao ước. Ánh sáng không có thời gian, không thể là một ý niệm, một lý tưởng, một mục tiêu, một mâu thuẫn. Ngược lại, nếu trước mắt ta không có mục tiêu thì làm gì có mâu thuẫn? Không mâu thuẫn thì sự thật hiện liền trước mắt. Trong sự thật không có thời gian, không có cái tôi. Sự thật không thể suy gẫm được.

Thử hỏi ta suy nghĩ bằng cách nào? Nghĩ tức là nhớ.

Không nhớ, không thể nghĩ.

Không kỷ niệm, không thể có suy niệm.

Không khuôn mẫu, không thể chê khen.

Không tiêu chuẩn, không thể suy luận.

Khuôn mẫu, tiêu chuẩn, kỷ niệm nằm ở ký ức của cá nhân và của cả loài người.

Ký ức của loài người là lịch sử, nơi ghi chép những oán thù truyền kiếp giữa các nước.

Ký ức của cá nhân là tiềm thức, nơi chất chứa mọi buồn đau tủi hận, những mơ ước không thành cũng như mọi kiến thức.

Ký ức tạo ra ngày qua, hôm nay và ngày mai. Ngày qua chi phối hôm nay, và uốn nắn ngày mai…Đó là một dòng diễn tiến liên tục nhằm kéo dài để trở thành.

Trở thành nghĩa là lặp đi lặp lại mãi, với ít nhiều sửa đổi bên ngoài, mà bên trong vẫn là cái cốt cũ được ướp khô giữa những mốc meo của quá khứ. Chính cái lặp đi lặp lại mãi ấy ta gọi là cuộc đời, là sự thật – cuộc đời và sự thật dưới mắt của ký ức.
Trái lại, dưới mắt của người giác ngộ, cuộc sống là một lò sáng tạo phi thường, chưa hề lặp lại; trái đất này không phải đã sanh ra ở một thời cổ lỗ nào đó, mà hiện giờ vẫn đương sanh, và ngày mai lại sẽ sanh. Không giây phút nào chúng ta không đứng trước một cuộc sáng thế – sáng thế ở ta, và quanh ta.

Thử coi: trong số năm sáu tỉ người trên trái đất này, chưa hề có hai người giống hệt nhau: đó là cái tuyệt đẹp của cuộc sống. Ta tưởng chừng như thiên nhiên tạo xong người nào là đập ngay cái khuôn ấy. Cuộc sống không giữ khuôn. Cuộc sống không có khuôn.

Không nhằm tạo ra những kiểu mẫu. Sự sống tạo ra chúng ta khác nhau hết, và ta thành tựu là thành tựu cái dị biệt ấy, chứ không phải rập khuôn.

Không rập khuôn: đó cũng là cái chí thiện của thiên nhiên.

Trong đời, kẻ mạnh bạo có thế lực, có oai quyền thì ngồi trên cao, còn kẻ yếu hèn phải gục đầu dưới thấp. Bây giờ ta thử ngắm cây kia, ngược lại, toàn thể sức mạnh nâng đỡ thân cây đều trụ ở bộ rễ nằm sâu kín dưới đất, còn trên cao là lộc non, mầm hèn, cành yếu.

Trong xã hội loài người, theo tổ chức hiện nay, kẻ yếu nâng người mạnh và có thế lực, còn trong thiên nhiên thì cái gì mạnh và cứng lại nâng cái yếu hèn.

Thế mới biết cái mà ta gọi là “cạnh tranh sinh tồn” chỉ là một triết lý suông nhằm thỏa mãn cái tôi hiếu chiến và ham chiếm hữu.
Cuộc sống không có cái tôi nên cuộc sống không triết lý. Triết lý nhằm nuôi sống cái tôi nên tìm chân lý ta chỉ gặp được cái tôi, và mọi biến thể của cái tôi. Nghĩ đến sự thật là phản lại sự thật. Sự thật là một sự kiện, không phải là một ý nghĩ. Sự kiện là cái gì trước mắt, rất cụ thể, đang diễn tiến và diễn biến, ngẫu nhiên và vô tận.

Ý nghĩ là cái gì rất trừu tượng, đứt nối và gắn kết vào nhau trong quá trình nhân quả.

Cái gì vô tận thì mãi mãi sáng tạo, luôn luôn mới. Cái gì đứt nối thì mãi mãi lặp lại, luôn luôn cũ. Cho nên ý nghĩ tức là đem cái cũ ra đo lường cái mới – cái cũ rút ra từ kho ký ức.

Sự thật không có ký ức, nên sự thật là một năng lực không nguyên nhân, là ngọn lửa không khói. Ký ức bám đầy khói nên ý nghĩ là một trò tái diễn “buồn nôn”.

Hàng giác ngộ không có ký ức nên các ngài tự nhiên yêu đời – đời là một trường thiên diễn giàu sang không cùng, mà người là những diễn viên chưa hề cũ.

Mỗi ngày bạn đi làm về nhìn lại gia đình thấy vợ con mới lạ tưởng chừng như mới thấy lần đầu.

Đó là lời khuyên của hàng đạt đạo thấu triệt được chân tướng của đời: đời không hề lặp lại, nên “nhất kiến bất khả tái kiến”.

Chúng ta nặng mang ký ức nên sống, đối với chúng ta, chỉ có nghĩa là lặp lại, nghe lại, thấy lại, nhớ lại. Không phải đời nhớ, mà cái tôi nhớ. Chẳng hạn như lần đầu ta ngắm cảnh mặt trời lặn, ta thấy thích. Lần sau ta tìm xem lại cảnh ấy, và ta hết thích. Ấy chỉ vì lần đầu, ta không có ký ức nên ta trực tiếp nhìn và cảm được cảnh hoàng hôn, màu sắc bảng lảng biến đổi từng giây phút trên nền trời. Lần sau ta có ký ức nên ảnh cũ chồng lên ảnh mới. Ta sanh chán. Đời đáng chán là vậy. Ta chán đời? Hay đời chán ta?

Vậy nên ta cần đề phòng những cái mà thiên hạ gọi là “bài học lịch sử”, là “khuôn vàng thước ngọc”, là kinh nghiệm. Ở đâu có khuôn thước, có bài học, ở đó không có sự thật và sáng tạo. Ở đâu có kinh nghiệm, ở đó có lặp lại. Sự thật không lặp lại. Lặp lại sự thật là láo khoét. Cho nên kinh nghiệm với sự thật không đi đôi với nhau. Sự thật với không kinh nghiệm chỉ là một.

Ta nghĩ để làm gì? Đi tìm sự thật ư?

Tìm sự thật là cái vô nghĩa, là xây lưng với sự thật. Sự thật không có chỗ trụ, không có đường vào… Khi bạn tìm sự thật, bạn chỉ gặp toàn vô minh, vì động cơ giục bạn tìm sự thật vốn đã là vô minh rồi. Bạn không thể tìm sự thật. Bạn phải buông dứt hết đi thì sự thật lộ ngay trước mắt.

Ta tìm sự thật bằng cách nào? Bằng suy luận ư? Suy luận là từ cái đã biết diễn hiện ra cái chưa biết.

Cái đã biết là ký ức, kinh nghiệm, tủ sách, là cái tôi nằm ở quá khứ.Cái chưa biết là chân thiện mỹ, là đạo, là bản thể của muôn vật, là chân tướng của sự sống chết v.v…

Từ cái tôi, người ta chỉ có thể diễn hiện ra một cái tôi khác, tinh vi hơn; không thể nào diễn hiện ra được cái chưa biết, cái thực.
Bạn không thể nào suy nghĩ được cái bạn chưa biết. Suy niệm chỉ có thể hoặc nhận lấy hoặc chối bỏ, chứ không tìm ra hoặc khám phá ra được cái mới, nhưng nếu suy niệm im đi là có cái mới…

Trí óc phải bặt đi trong im lặng hoàn toàn. Sự im lặng đó chỉ có được khi trí óc không tìm tòi nữa, không dấn thân vào cuộc trở thành. Trí óc phải hoàn toàn bất động. Trí óc chỉ có thể bất động khi nó không còn là trường kinh nghiệm, nghĩa là khi nó hết chỉ trỏ và đặt tên, không xếp loại và tích trữ gì hết trong ký ức. Chỉ khi nào toàn thể tâm thức bất động và trầm lặng, hết bôn ba để trở thành, lúc ấy tâm trí mở rộng và tiếp nhận cái bao la vô tận… Trí óc không lường được cái không có hạn lượng. Ta không thể nói gì về thực tại, khi ta nói đến thực tại thì không còn là thực tại nữa.

Đó là con đường không đường vào chân lý.

Krishnamurti nói:
Hãy chết đi kỳ gian. Chết đi toàn thể quan niệm về thời gian – quá khứ, hiện tại và vị lai. Chết đi những hệ thống, những biểu tượng, chết đi những tên gọi vì đó toàn là mầm thối nát. Chết đi tâm thức của bạn, vì chính nó tạo ra thời gian tâm lý. Chết đi ở mỗi phút, mỗi ngày, mỗi việc làm, chết đi niềm vui thoắt đến, ở nỗi khổ dằng dai, và ông kết luận:

Tham thiền là thoát ly thời gian. Vì lẽ trí óc là sản phẩm của thời gian, suy tư phải dứt đi để cho thực tại hiển hiện.

Chỉ khi nào trí óc cởi mở hết suy niệm, lúc ấy mới tiếp nhận cái hiện tiền, cái vĩnh cửu, cái thực.

Cái thực ấy cũng chính là tình thương. Tình thương ấy là tâm đạo.

Người có tình thương mới thật là tâm đạo, vì đạo chân chánh không dựng trên tín ngưỡng, giáo điều. Người có tình thương mới thật có đạo tâm, dầu thương một người hay thương nhiều người. Tình thương là cái hiện tiền, cái tột cùng, cái không đo lường được, cái tất cả.

Tình thương là Biển Đại Giác, thâu gồm ba đời trong khoảnh khắc: Một trong Tất Cả, Con Người trong Vũ Trụ. Toàn thể là một bầu Nguyên Thỉ, trong ngoài thông suốt, phản và chiếu nhau trùng trùng theo nhịp cảm ứng đại đồng:

Ôi, trùng dương tràn ngập lòng ta

Một ngày sống đủ trăm mùa hạ

Bạn ơi,

Nơi anh ta ngắm khuôn mặt ta

Khuôn mặt Người Yêu thương mến lạ!

(Khúc Ca Tình Thương)